Liên kết website
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH Thống kê truy cập
Đang truy cập35
Tổng số lượt xem 594530
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm đối với Bản án số 13/2018/HNGĐ-ST ngày 05/6/2018 về việc xin ly hôn của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu
Đăng lúc 11-07-2018 10:54:20
Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kháng nghị của VKSND theo quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2014, BLTTDS năm 2015 và thực hiện tốt chỉ tiêu về công tác kháng nghị theo Chỉ thị số 10/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện trưởng VKSND tối cao về “Tăng cường nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm dân sự, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự”. Ngày 05/7/2018, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã ban hành Kháng nghị phúc thẩm đối với Bản án số 13/2018/HNGĐ-ST ngày 05/6/2018 về việc xin ly hôn của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu giữa Nguyên đơn: Anh Phạm Đình Việt, địa chỉ: Tiểu khu 2, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La và Bị đơn: Chị Trần Thị Thuyên, địa chỉ: Tiểu khu 2, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Nội dung cụ thể như sau:

Theo đơn xin ly hôn và bản tự khai, anh Phạm Đình Việt trình bày: Anh Trần Đình Việt và chị Trần Thị Thuyên kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 04/12/2008 tại UBND xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Anh chị chung sống hạnh phúc một thời gian đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Nay xét thấy tình cảm không còn, ngày 27/2/2018 anh Việt viết đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu đề nghị xử cho ly hôn chị Thuyên.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh chị có 02 con chung tên là: Phạm Thu Hiền sinh ngày 06/12/2009 và Phạm Đình Lương sinh ngày 01/12/2013. Nguyện vọng của anh Việt là trực tiếp trông nom, chăm sóc và giáo dục hai cháu, không yêu cầu chị Thuyên cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại Bản án số 13/2018/HNGĐ-ST ngày 5/6/2018 quyết định:

1. Về hôn nhân: X cho anh Phm Đình Vit được ly hôn với chị Trần Thị Thuyên.

2. Về con chung: Xử giao cả hai cháu Phạm Thu Hiền, sinh ngày 06/12/2009 và Phạm Đình Lương sinh ngày 01/12/2013 cho anh Phạm Đình Việt được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Trần Thị Thuyên chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Trần Thị Thuyên có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

4. Về án phí: Anh Phạm Đình Việt phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Đình Việt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị Trần Thị Thuyên được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo thủ tục hợp lệ.

Qua công tác kiểm sát bản án, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La xét thấy:

Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi Tòa án ra thông báo về việc thụ lý vụ án cho đến khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử thì bị đơn chị Trần Thị Thuyên không tham gia tố tụng. Các giấy triệu tập cũng như các văn bản tố tụng của Tòa án đều tống đạt qua ông Phạm Văn Dũng (Tiểu khu trưởng tiểu khu 2, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu) hoặc được niêm yết công khai, không tống đạt trực tiếp đến chị Thuyên. Khi tiến hành xác minh đối với ông Dũng, ông cho biết hiện nay chị Thuyên không có mặt tại địa phương, chị Thuyên đi đâu, làm gì chính quyền địa phương không nắm được, chị không đăng ký tạm vắng và không báo gì với tiểu khu. Như vậy, thời điểm nguyên đơn anh Phạm Đình Việt làm đơn khởi kiện, chị Thuyên không có mặt tại địa chỉ mà anh Việt cung cấp trong đơn khởi kiện. Địa chỉ mà anh Thuyên cung cấp chỉ là nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của chị Thuyên, còn địa chỉ hiện đang cư trú của chị Thuyên thì anh Việt không cung cấp được.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về ly hôn theo yêu cầu của một bên:2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.”

Theo quy định này, anh Việt có quyền làm đơn xin ly hôn chị Thuyên. Tuy nhiên, chị Thuyên không có mặt tại nơi cư trú tại thời điểm anh Việt khởi kiện nên chị không thể biết và không buộc phải biết việc khởi kiện của anh Việt, cũng như chị không nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án. Anh Việt chỉ có quyền làm đơn xin ly hôn chị Thuyên trong trường hợp chị Thuyên bị Tòa án tuyên bố mất tích. Như vậy, anh Việt chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Đối với trường hợp này, Tòa án phải căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 192 BLTTDS trả lại đơn khởi kiện cho đương sự khi chưa có đủ điều kiện (theo khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối caothì chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật là “trường hợp pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật khác có quy định về các điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.”)

Mặt khác, việc Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu chỉ tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng mà không thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là không đảm bảo tính hợp lệ của việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng theo Điều 180 BLTTDS. “Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được cấp, tống đạt, thông báo nhận được thông tin về văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo”. Trong vụ án này, chị Thuyên không có mặt tại địa chỉ cư trú trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không biết hiện đang ở đâu, vì vậy, có căn cứ để cho rằng, nếu chỉ thực hiện thủ tục niêm yết mà không thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng thì chị Thuyên không thể nhận được thông tin về các văn bản tố tụng. Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu đã vi phạm thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho chị Thuyên theo Điều 180 BLTTDS, do đó, việc triệu tập chị Thuyên không được coi là hợp lệ. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 để xét xử vắng mặt chị Thuyên là không đảm bảo theo quy định của pháp luật. Do có những vi phạm về thủ tục tố tụng, nên việc giải quyết về nội dung chưa đảm bảo theo quy định của pháp luật.

          Vì các lẽ trên, ngày 05/7/2018 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã ban hành Quyết định kháng nghị đối với Bản án số 13/2018/HNGĐ-ST ngày 05/6/2018 về việc xin ly hôn của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu. Căn cứ quy định tại Điều 278, Điều 280, khoản 4 Điều 308, Điều 311 BLTTDS 2015 đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm theo hướng hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. 

          Có thể nói, việc ban hành kháng nghị có căn cứ, đúng pháp luật là hành động cụ thể, thiết thực hưởng ứng lời dạy của Bác Hồ đối với ngành kiểm sát: “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng và khiêm tốn”; thực hiện tốt Chỉ thị số 10/CT-VKSTC ngày 06/04/2016 của Viện kiểm sát tối cao: Tiếp tục tăng cường công tác kháng nghị án dân sự. Thông qua hoạt động này, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm pháp luật thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân./.

Bài: Phạm Thu Hà – Kiểm sát viên sơ cấp Phòng 9

Các nội dung liên quan

Các bài mới đăng