Liên kết website
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH Thống kê truy cập
Đang truy cập11
Tổng số lượt xem 505103
Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng Quy chế 279/QĐ-VKSTC ngày 01/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về chế độ thông tin, báo cáo và quản lý công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân
Đăng lúc 16-08-2018 13:54:45
Qua một năm thực hiện Quy chế 279/QĐ-VKSTC ngày 01/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về chế độ thông tin, báo cáo và quản lý công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân (Quy chế 279), việc chấp hành chế độ thông tin báo cáo và quản lý công tác trong Ngành kiểm sát Sơn La đã đạt được những kết quả đáng kể, chất lượng các loại báo cáo được nâng lên, phục vụ tốt công tác quản lý, chỉ đạo điều hành của lãnh đạo Viện trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ.

Trong những năm qua, công tác tham mưu, tổng hợp của Viện kiểm sát Sơn La có chuyển biến tích cực góp phần thực hiện tốt các chỉ tiêu theo Nghị quyết số 37/2012/QH13 ngày 23/11/2012, Nghị quyết số 63/2013/QH13 ngày 27/11/2013, Nghị quyết số 96/2015/QH13, Nghị quyết số 111/2015/QH13, các nghị quyết khác của Quốc hội, đặc biệt là các hệ thống chỉ tiêu nghiệp vụ mà Ngành kiểm sát đặt ra.

Tuy nhiên, từ thực tiễn làm công tác tham mưu, tổng hợp, chúng tôi đánh giá, tổng hợp thực trạng việc áp dụng Quy chế 279 và một số lỗi thường gặp trong việc xây dựng các báo cáo định kỳ trong ngành Kiểm sát, đồng thời đưa ra một số nguyên nhân và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng Quy chế 279 trong Ngành.

Viện kiểm sát tỉnh Sơn La tổ chức Hội nghị tập huấn công tác Văn phòng tổng hợp năm 2018 góp phần nâng cao hiệu quả công tác tham mưu, tổng hợp trong ngành Kiểm sát

*Thực trạng áp dụng Quy chế 279 trong việc xây dựng báo cáo tuần

 Đối với báo cáo tuần trong phần tình hình tội phạm, một số đơn vị nêu thiếu thông tin ban đầu của các vụ, việc như: đối tượng phạm tội, vật chứng, hành vi, hậu quả, kết quả xử lý ban đầu các vụ, việc; không nêu các vụ điển hình.

Đối với mỗi nhóm tội phạm cần có sự phân tích, tổng hợp. Ví dụ như tội phạm về ma túy cần phân tích tổng số vụ  khởi tố, bắt bao nhiêu đối tượng, vật chứng thu giữ, và kết quả xử lý ban đầu. Nếu có những vụ vật chứng thu giữ lớn, có nhiều đối tượng thì cần lựa chọn để nêu điển hình. Khi nêu vụ điển hình cần nói rõ ngày giờ, địa điểm xảy ra tội phạm, họ tên,  đối tượng phạm tội, vật chứng thu giữ và kết quả xử lý ban đầu. Có những đơn vị một tuần xảy ra 7 đến 10 vụ thì không cần phải liệt kê tất cả các vụ mà chỉ cần nêu ngắn gọn như: trong tuần phát hiện xử lý bao nhiêu vụ việc bắt giữ bao nhiêu đối tượng, thu giữ vật chứng như thế nào và kết quả xử lý, sau đó nêu  một đến hai vụ điển hình.

 Một số đơn vị báo cáo các vụ, việc không kịp thời, có vụ xảy ra từ tuần trước nhưng để đến kỳ báo cáo sau mới báo cáo, dẫn đến không đảm bảo tính kịp thời của việc báo cáo phục vụ cho công tác chỉ đạo điều hành của lãnh đạo.

Việc xác định nhóm tội không chính xác, ví dụ tội hủy hoại rừng thuộc nhóm tội về môi trường thì lại đưa vào nhóm tội phạm tham nhũng chức vụ là không chính xác.

Đối với công tác thực hành quyền công công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp cần chú ý tập trung đánh giá vào các biện pháp nghiệp vụ thể hiện vai trò, chức năng nhiệm vụ của ngành như: việc ban hành kiến nghị, kháng nghị, kiểm sát trực tiếp, xác định án điểm, phiên tòa kinh nghiệm, thông báo rút kinh nghiệm…. để nêu bật được hiệu quả công tác kiểm sát.  Khi đưa các kiến nghị, kiểm sát trực tiếp cần chú ý đến việc nêu rõ các dạng vi phạm đã phát hiện, tránh ghi chung chung ví dụ như chỉ ghi vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự,  cần nêu khái quát nội dung vi phạm. Những trường hợp phải trả hồ sơ điều tra bổ sung, tạm đình chỉ, đình chỉ, không phê chuẩn quyết định tố tụng cần nêu rõ lý do, điều khoản áp dụng.

*Thực trạng áp dụng Quy chế 279 trong việc xây dựng báo cáo tháng

Nội dung của báo cáo sơ sài, nặng về liệt kê số liệu, việc làm, chưa có sự nhận định đánh giá khái quát về từng khâu công tác.

Tính khái quát của một số báo cáo của một số báo cáo tháng chưa cao: không phân tích, so sánh, tổng hợp, đánh giá khái quát được tình hình vi phạm, tội phạm chung, không nêu được nhưng điểm nổi bật trong thời kỳ báo cáo; không làm rõ được nguyên nhân của sự biến động tình hình vi phạm, tội phạm, các thủ đoạn mới phát sinh của tội phạm.

Nhiều báo cáo của các đơn vị còn sơ sài, không phản ánh được kết quả hoạt động thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật. Những báo cáo này chỉ nêu những số liệu mà VKSND nắm được qua các cơ quan tư pháp khác hoặc nêu số liệu đơn thuần về số thụ lý, số phát sinh trong tuần và số đã giải quyết.

Có một số báo cáo phần kết quả công tác thể hiện như báo cáo thống kê, theo mẫu sẵn và hàng tuần, tháng người xây dựng báo cáo chỉ việc thay đổi số liệu, những chỉ tiêu không phát sinh trong kỳ báo cáo thì để trống…

Báo cáo tháng của một số đơn vị vẫn mang nặng số liệu thuần túy, thiếu sự phân tích, so sánh, nhận xét, đánh giá về chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát, đánh giá về tiến độ thực hiện chỉ tiêu nghiệp vụ đã đề ra, cách tính tỷ lệ phần trăm cũng chưa chính xác. Từ đó dẫn đến việc khó tổng hợp, tổng hợp không đầy đủ kết quả công tác kiểm sát của các đơn vị trong toàn Ngành trong việc xây dựng báo cáo chung.

Trong báo cáo công tác hàng tháng của các đơn vị, ngoài phần tình hình tội phạm và kết quả công tác kiểm sát, công tác xây dựng ngành còn phần “Các công tác trọng tâm của tháng sau”. Tuy nhiên, qua công tác tổng hợp các báo cáo của các đơn vị trong toàn ngành thấy một số báo cáo không đưa nhiệm vụ trọng tâm của tháng sau vào báo cáo. Một số báo cáo tuy có nêu công tác trọng tâm của tháng sau nhưng nội dung không cụ thể, không đúng với dự kiến chương trình công tác của đơn vị.

*Thực trạng áp dụng Quy chế 279 trong việc xây dựng báo cáo 6 tháng, báo cáo tổng kết.

Đối với báo cáo sơ kết, tổng kết khác với báo cáo tuần, báo cáo tháng một số lỗi thường gặp các đơn vị không đánh giá khái quát tình hình tội phạm, so sánh tính tăng, giảm của tháng trước với tháng sau, 6 tháng một năm của năm trước với năm sau, để có sự đánh giá khái quát biến động của tình hình vi phạm và tội phạm trong các lĩnh vực, từ đó có những kiến nghị có giá trị với cấp trên, (chú ý một số đơn vị chỉ đánh giá tình hình tội phạm mà không đánh giá tình hình tranh chấp dân sự là không đúng với mẫu 41 theo Quyết định số 386/QĐ-VKSTC ngày 10/10/2017).

Trong phần kết quả công tác kiểm sát thiên về liệt kê số liệu, nên tập trung thể hiện những công việc đã thực hiện và biện pháp tác động của Viện kiểm sát nhằm nâng cao hiệu quả công tác. Báo cáo và phụ lục tháng, 6 tháng, năm phải khớp nhau về số liệu, ví dụ  trong phụ lục ban hành một kiến nghị trong giải quyết án dân sự nhưng trong báo cáo viết lại không có.

Báo cáo tháng sơ kết, tổng kết năm không đánh giá khái quát, ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân thiếu sót trong thời điểm báo cáo phục vụ công tác quản lý chỉ đạo điều hành của lãnh đạo Viện.

*Nguyên nhân của khuyết điểm, hạn chế

Cán bộ, công chức làm công tác tổng hợp đều là công chức mới vào Ngành, chưa có kinh nghiệm về nghiệp vụ công tác trong Ngành, trình độ hiểu biết về chức năng, nhiệm vụ, về các khâu công tác kiểm sát cụ thể còn hạn chế. Một số công chức được giao làm báo cáo tổng hợp chưa phân biệt được kết quả thực hiện chức năng kiểm sát với đối tượng của công tác kiểm sát, nên báo cáo kết quả công tác không chính xác, còn nặng về thống kê số liệu chung của cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan tư pháp.

Một bộ phận công chức làm công tác tổng hợp chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của báo cáo tổng hợp, cho rằng báo cáo chỉ đơn thuần để đáp ứng yêu cầu của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên, do đó chưa có sự quan tâm đúng mức đến yêu cầu cụ thể của từng loại báo cáo; báo cáo để đối phó về thời gian và yêu cầu của cấp trên.

Cán bộ làm công tác tham mưu, tổng hợp ít có điều kiện tiếp xúc, tiếp xúc không đầy đủ nên không nắm được chủ trương, cũng như kế hoạch và các biện pháp chỉ đạo của lãnh đạo Viện. Từ đó dẫn đến việc xây dựng dự thảo các báo cáo không nêu được đầy đủ hoạt động của đơn vị, không đưa ra được những nhận định đánh giá sát với tình hình thực tế của đơn vị,  nên công tác tham mưu cho lãnh đạo Viện chưa hiệu quả.

Hầu hết công chức làm công tác tham mưu, tổng hợp không được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về nghiệp vụ công tác tổng hợp; chưa có kỹ năng, kinh nghiệm trong việc phân tích, tổng hợp, đánh giá … Một số đơn vị chưa quan tâm, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho công chức làm công tác tổng hợp. Mặt khác, việc bố trí công chức làm công tác tổng hợp thường không ổn định nên khó khăn cho việc tích lũy kinh nghiệm, kỹ năng công tác; có công chức làm công tác tổng hợp chưa thật sự yên tâm với công tác được giao, coi công tác tham mưu, tổng hợp là tạm thời, chưa thật sự say mê với công việc, chưa có ý thức tự nâng cao trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm công tác, còn thiếu trách nhiệm, để xảy ra sai sót.

Ngoài những nguyên nhân trên, còn có nguyên nhân: do lãnh đạo các đơn vị chưa tạo ra cơ chế, bố trí công chức hợp lý; chưa quan tâm giáo dục, nâng cao ý thức cho công chức làm công tác tham mưu, tổng hợp. Khi duyệt báo cáo chưa giành đủ thời gian để nghiên cứu, xem xét, kiểm tra dẫn đến chất lượng báo cáo còn có hạn chế, nhiều báo cáo sau khi ban hành còn phải bổ sung, đính chính.

* Giải pháp nâng cao chất lượng công tác tham mưu, tổng hợp

- Quan tâm đến việc sắp xếp, phân công cán bộ làm công tác tổng hợp có năng lực, trình độ, kinh nghiệm làm công tác tham mưu, tổng hợp đảm bảo tính lâu dài, ổn định, đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

- Lãnh đạo Viện kiểm sát hai cấp cần quan tâm hơn nữa đến việc kiểm tra, theo dõi, đôn đốc tiến độ chất lượng các loại báo cáo, giành thời gian để duyệt kỹ báo cáo trước khi ban hành, tránh để xảy ra sai sót, sau khi ban hành phải bổ sung, đính chính.

- Nâng cao trách nhiệm của cán bộ làm công tác tham mưu, tổng hợp: Cán bộ làm công tác tổng hợp phải tận tâm với công việc, chịu khó nghiên cứu nhiều loại văn bản, tài liệu liên quan của nhiều lĩnh vực, tập hợp những vấn đề liên quan, có ảnh hưởng đến nội dung báo cáo để xây dựng báo cáo được hoàn chỉnh, đảm bảo đầy đủ nội dung và có chiều sâu, từ đó đưa ra những nhận xét đánh giá ưu điểm, tồn tại của từng khâu công tác, để có phương pháp tham mưu cho lãnh đạo Viện trong công tác chỉ đạo, điều hành nhằm thực hiện tốt kế hoạch công tác của đơn vị.

-  Thường xuyên tranh thủ sự hướng dẫn, chỉ đạo trực tiếp của Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; duy trì, củng cố và tăng cường mối quan hệ phối hợp với các các phòng nghiệp vụ và các Viện kiểm sát cấp huyện đặc biệt là với phòng Thống kê tội phạm tạo mối quan hệ chặt chẽ, kịp thời khắc phục những tồn tại trong công tác xây dựng báo cáo. 

- Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn các kiến thức và kỹ năng tổng hợp và kỹ năng viết đối với cán bộ, Kiểm sát viên được giao nhiệm vụ xây dựng báo cáo của đơn vị, nội dung tập huấn đi sâu vào việc tìm hiểu, nghiên cứu chủ trương, chính sách của Nhà nước, của Ngành về chế độ thông tin báo cáo, kỹ năng soạn thảo văn bản, việc thực hiện hệ thống chỉ tiêu trong Ngành kiểm sát, việc áp dụng, thực hiện các mẫu, biểu báo cáo….từ đó có phương pháp tổng hợp, xây dựng báo cáo đáp ứng yêu cầu của lãnh đạo Viện, đảm bảo chất lương, hiệu quả đáp ứng theo Quy chế 279/QĐ-VKSTC ngày 01/8/2017 về ban hành Quy chế về chế độ thông tin, báo cáo và quản lý công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân./.

Bài, ảnh: Vũ Thị Tố Nga

                                                             Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La

Các nội dung liên quan

Các bài mới đăng