Liên kết website
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH Thống kê truy cập
Đang truy cập18
Tổng số lượt xem 595667
Đối tượng chứng minh trong pháp luật tố tụng hình sự của một số nước
Đăng lúc 28-11-2018 08:59:40
Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự của một số nước trên thế giới như Nga, Pháp, Mỹ và Trung Quốc.

1. Đối tượng chứng minh trong pháp luật tố tụng hình sự Nga

Nghiên cứu Bộ luật tố Tụng hình sự (BLTTHS) Nga năm 2001(1) tác giả nhận thấy, trong Bộ luật này có một điều luật quy định những vấn đề phải chứng minh trong VAHS, cụ thể là:

Điều 73 BLTTHS Nga năm 2001 quy định: “1. Trong quá trình tố tụng đối với vụ án hình sự cần chứng minh: 1) Sự kiện phạm tội (thời gian, địa điểm, phương pháp và những tình tiết khác của việc thực hiện tội phạm); 2) lỗi của người thực hiện tội phạm, hình thức lỗi và động cơ phạm tội; 3) những tình tiết về nhân thân bị can; 4) tính chất và mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra; 5) những tình tiết loại trừ tội phạm và hình phạt đối với hành vi; 6) những tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự; 7) những tình tiết có thể dẫn đến việc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt. 2. Cần xác định những tình tiết là điều kiện dẫn đến việc thực hiện tội phạm”.

Ngoài những sự kiện, tình tiết được liệt kê trong điều luật nêu trên, đối với những vụ án có chủ thể tội phạm là người chưa thành niên hay trong vụ án mà người thực hiện hành vi bị luật hình sự cấm trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc sau khi thực hiện tội phạm bị rơi vào tình trạng tâm thần thì các chủ thể TTHS phải chứng minh các tình tiết tương ứng được quy định trong các điều luật sau:

Điều 421 BLTTHS Nga năm 2001 quy định: “1. Khi tiến hành điều tra và xét xử vụ án về tội phạm do người chưa thành niên thực hiện, cùng với việc chứng minh những tình tiết quy định tại Điều 73 Bộ luật này cần xác định: 1) Tuổi của người chưa thành niên ngày, tháng, năm sinh của họ; 2) Điều kiện sống và giáo dục của người chưa thành niên, mức độ phát triển về tâm sinh lý và những đặc điểm khác về nhân thân của họ; 3) Ảnh hưởng của người lớn đối với người chưa thành niên. 2. Nếu tài liệu chứng minh về sự chậm phát triển tâm sinh lý không liên quan đến rối loạn tâm thần thì cần phải xác định xem người chưa thành niên có nhận thức đầy đủ về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và điều khiển được hành vi của mình hay không”.

Điều 434 của Bộ luật này quy định: “Khi tiến hành điều tra đối với các vụ án về những người quy định tại khoản 1 Điều 433 Bộ luật này thì Dự thẩm cần phải chứng minh các tình tiết sau: 1) Thời gian, địa điểm, phương pháp và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; 2) Người đó có thực hiện hành vi bị luật hình sự cấm hay không; 3) Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; 4) Trước đó họ có bị bệnh tâm thần hay không, tính chất và mức độ bệnh tâm thần ở thời điểm thực hiện hành vi bị luật hình sự cấm hoặc trong thời gian tố tụng đối với vụ án; 5) Bệnh tâm thần của họ có liên quan đến sự nguy hiểm cho bản thân họ hoặc những người khác hoặc có khả năng gây ra những thiệt hại nghiêm trọng khác hay không”.

Ba điều luật nêu trên trực tiếp liệt kê những sự kiện, tình tiết phải chứng minh trong VAHS, trong đó, Điều 73 BLTTHS Nga năm 2001 quy định những sự kiện, tình tiết phải chứng minh trong mọi vụ án; Điều 421 và Điều 434 của Bộ luật này quy định những sự kiện, tình tiết phải chứng minh thêm trong vụ án mà người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có dấu hiệu riêng theo luật định. Ngoài ra, đối tượng chứng minh trong VAHS còn được quy định gián tiếp ở một số điều luật khác của Bộ luật này, chẳng hạn như:

Khoản 1 Điều 352 BLTTHS Nga năm 2001 quy định: “Nếu trong quá trình xét xử vụ án tại Tòa án có sự tham gia của Bồi thẩm đoàn xác định được những tình tiết chứng minh bị cáo không có năng lực hành vi ở thời điểm thực hiện hành vi mà người đó bị buộc tội hoặc chứng minh rằng sau khi thực hiện tội phạm bị cáo bị rối loạn tâm thần dẫn đến việc tuyên hình phạt và chấp hành hình phạt không thể thực hiện được và được khẳng định trong kết quả giám định tư pháp tâm thần thì Chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ xét xử vụ án có sự tham gia của Bồi thẩm đoàn và chuyển vụ án để xét xử ở Tòa án theo thủ tục quy định tại mục 51 của Bộ luật này”.

Điều 97 của Bộ luật này quy định những căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn: “1. Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán trong phạm vi thẩm quyền được giao, có quyền được áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn quy định tại Bộ luật này nếu có đủ căn cứ để cho rằng người bị tình nghi, bị can: 1) Trốn tránh việc điều tra ban đầu, điều tra dự thẩm hoặc xét xử; 2) có thể tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; 3) Có thể đe dọa người làm chứng, những người khác tham gia tố tụng hình sự, tiêu hủy chứng cứ, cũng như có hành vi khác cản trở hoạt động tố tụng đối với vụ án; 2. Có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn để bảo đảm thi hành án”.

Khoản 9 Điều 108 của Bộ luật này quy định: “Việc tiếp tục yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp tạm giam đối với cùng một người trong cùng vụ án đó, sau khi Thẩm phán ra quyết định không chấp nhận yêu cầu tạm giam đối với họ chỉ có thể được chấp nhận khi có những tình tiết mới chứng minh sự cần thiết phải áp dụng biện pháp tạm giam đối với người này”.

Điều 24 của Bộ luật này quy định những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự hoặc đình chỉ vụ án hình sự: “1. Không được khởi tố vụ án hình sự và đối với vụ án hình sự đã được khởi tố thì phải đình chỉ theo những căn cứ sau đây: 1) Không có sự việc phạm tội; 2) hành vi không cấu thành tội phạm; 3) đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; 4) người bị tình nghi hoặc bị can đã chết, trừ những trường hợp việc tiến hành tố tụng đối với vụ án là cần thiết để minh oan cho người đã chết; 5) không có yêu cầu của người bị hại, nếu vụ án đó chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, trừ những trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 20 Bộ luật này; 6) không có kết luận của Tòa án về dấu hiệu tội phạm đối với hành vi của một trong những người quy định tại…”.

2. Đối tượng chứng minh trong pháp luật tố tụng hình sự Pháp

Nghiên cứu BLTTHS Pháp năm 1996(2) thấy, trong Bộ luật này không có điều luật riêng quy định những vấn đề phải chứng minh trong VAHS. Tuy nhiên, vẫn có thể tìm thấy những sự kiện, tình tiết phải chứng minh được quy định gián tiếp trong một số điều luật của Bộ luật này, chẳng hạn như:

Tại khoản 1 và khoản 5 Điều 81 BLTTHS Pháp năm 1996 quy định: “1. Dự thẩm tiến hành mọi hoạt động điều tra cần thiết để xác định sự thật theo đúng quy định của pháp luật…; 5. Dự thẩm trực tiếp hoặc giao cho Sĩ quan cảnh sát tư pháp, theo quy định của khoản 4, hoặc giao cho bất cứ người nào có thẩm quyền theo quy định của Chính phủ tiến hành điều tra nhân thân cũng như hoàn cảnh kinh tế, gia đình và xã hội của bị can…”; Điều 94 quy định: “Việc khám xét được thực hiện tại bất cứ nơi nào có thể tìm ra những vật giúp cho xác định sự thật…”. Điều 103 quy định: “Người làm chứng tuyên thệ sẽ khai tất cả sự thật và chỉ khai sự thật. Dự thẩm hỏi họ, tên, tuổi, lý lịch, nghề nghiệp, chỗ ở của người làm chứng, hỏi xem người làm chứng có quan hệ bà con thân thuộc với các bên đương sự hay không, nếu có thì quan hệ giữa người làm chứng và bên đương sự ở mức độ nào. Câu hỏi và câu trả lời phải được ghi vào biên bản”. Khoản 1 Điều 116 quy định: “Trong lần hỏi cung đầu tiên, dự thẩm xác định căn cước của bị can…”. Điều 176 quy định: “Dự thẩm kiểm tra các yếu tố cấu thành tội phạm hiện hữu chống lại bị can để trên cơ sở đó xác định tội phạm”.

Điều 177 quy định: “Nếu các sự kiện xảy ra không cấu thành trọng tội,… hoặc vi cảnh hoặc nếu chưa xác định được người phạm tội hoặc chưa đủ chứng cứ buộc tội bị can, thì dự thẩm ra quyết định miễn tố…”. Khoản 1 Điều 212 quy định: “Nếu xét thấy các sự kiện,… hoặc chưa tìm ra người phạm tội… thì Tòa điều tra phúc thẩm tuyên bố đình chỉ điều tra”. Điều 348, 349 quy định: “Chủ tọa phiên tòa nêu các vấn đề mà Tòa đại hình và Bồi thẩm đoàn phải xem xét… Mỗi tình tiết tăng nặng phải được nêu thành một vấn đề. Mỗi lý do miễn hay giảm hình phạt theo quy định của pháp luật cũng được nêu thành một vấn đề”. Điều 397 quy định: “Nếu bị cáo được đưa ra Tòa tiến hành xét xử theo quy định tại các Điều 395 và Điều 396 khoản 3 thì Chánh án Tòa tiến hành sẽ xác định căn cước của bị cáo sau khi thông báo cho Luật sư của bị cáo…”; Điều 468 của Bộ luật quy định: “Nếu bị cáo được miễn hình phạt theo quy định của pháp luật thì Tòa án tuyên bố bị cáo có tội và miễn hình phạt cho bị cáo…”.

3. Đối tượng chứng minh trong pháp luật tố tụng hình sự Mỹ

Pháp luật TTHS Mỹ không có điều luật riêng quy định những vấn đề phải chứng minh trong VAHS. Tuy nhiên, nghiên cứu Các nguyên tắc liên bang về tố tụng hình sự Mỹ năm 2006(3) tác giả thấy, đối tượng chứng minh trong VAHS được quy định gián tiếp trong nội dung của một số nguyên tắc, chẳng hạn như:  

Điểm 1 khoản a Nguyên tắc 4 quy định: “Khi thẩm phán ban hành lệnh bắt thì một lệnh bắt phải: (A) Bao gồm tên bị cáo hoặc, trường hợp không biết tên thì có một tên nào đó hoặc sự mô tả mà theo đó có thể xác định được bị cáo một cách chắc chắn; (B) Mô tả về tội phạm bị tố giác trong đơn”. Điểm 1 khoản a Nguyên tắc 5 quy định về trình diện ban đầu như sau: “Nếu bị cáo bị bắt tại quận được cho là nơi đã xảy ra hành vi phạm tội: (A) Việc trình diện ban đầu phải ở tại quận đó; và (B) Nếu thẩm phán sơ thẩm không có mặt vì lý do chính đáng, việc trình diện ban đầu có thể tới một nhân viên tư pháp địa phương hoặc bang”Điểm 2 khoản a của nguyên tắc này quy định: “Nếu bị cáo bị bắt tại một quận khác với nơi được cho là đã xảy ra tội phạm, việc trình diện ban đầu phải: (A) Ở tại quận nơi tiến hành bắt; hoặc (B) tại quận kế bên nếu (i) việc trình diện có thể tiến hành kịp thời hơn”. Khoản e Nguyên tắc 5.1 quy định về xét hỏi sơ bộ: “… Nếu thẩm phán sơ thẩm thấy có căn cứ là có hành vi phạm tội xảy ra và bị cáo đã thực hiện hành vi này, thẩm phán sơ thẩm phải ngay lập tức yêu cầu bị cáo có mặt để tiến hành các tiến hành tố tụng tiếp theo”Khoản f nguyên tắc này quy định: “Nếu Thẩm phán sơ thẩm thấy không có căn cứ để xác định có hành vi phạm tội xảy ra hoặc bị cáo đã thực hiện hành vi này, thẩm phán sơ thẩm phải bác đơn tố giác và trả tự do cho bị cáo. Việc trả tự do này không ảnh hưởng đến quyền của Chính phủ trong việc truy tố bị cáo về cùng một tội đó sau này”. Điểm 1 khoản c Nguyên tắc 7 quy định: “Cáo trạng và thông báo phải bằng văn bản dễ hiểu, chính xác và nhất quán bao gồm các yếu tố cấu thành tội phạm và phải được Luật sư Chính phủ ký mà không cần phải có mở đầu hoặc kết luận một cách chính thức. Một tội danh truy tố có thể kết hợp bằng một dẫn chiếu đến một cáo buộc tại một Toà án khác. Một luận điểm truy tố có thể cho rằng phương thức phạm tội của bị cáo chưa được làm rõ hoặc tội phạm được thực hiện bằng một hoặc nhiều phương thức cụ thể. Đối với mỗi tội danh, bản cáo trạng hoặc thông báo phải trích dẫn chính thức hoặc theo tập quán các luật, nguyên tắc, quy định, hoặc các quy định khác của luật mà được xác định là bị cáo vi phạm…”. Khoản a Nguyên tắc 9 quy định: “Toà án phải ban hành lệnh bắt hoặc theo yêu cầu của Chính phủ là giấy triệu tập đối với từng bị cáo có tên trong bản cáo trạng hoặc thông báo nếu tài liệu kèm thông báo cung cấp căn cứ có cơ sở để tin rằng một tội phạm đã xảy ra và bị cáo đó đã thực hiện hành vi phạm tội. Toà án có thể ban hành một hoặc nhiều lệnh bắt hoặc giấy triệu tập đối với cùng một bị cáo…”. Điểm 5 khoản a Nguyên tắc 32.1 quy định: “Nếu một người bị bắt hoặc trình diện tại quận không có thẩm quyền để điều hành phiên toà xem xét việc huỷ bỏ, thẩm phán sơ thẩm phải: (A) tiến hành xét xử sơ bộ theo Nguyên tắc 32.1(b) nếu vi phạm bị cáo buộc xảy ra tại quận bắt, và cả việc: (i) Chuyển giao người cho quận có thẩm quyền xét xử, nếu thẩm phán thấy có căn cứ về việc có vi phạm xảy ra; hoặc (ii) Đình chỉ tố tụng và thông báo điều này cho Toà án có thẩm quyền xét xử, nếu Thẩm phán thấy không có căn cứ cho rằng có vi phạm xảy ra”. Điểm 6 khoản a Nguyên tắc 32.1 quy định: “Thẩm phán sơ thẩm có thể tha hoặc giam người theo quy định tại điều 3143(a) chương 18 Bộ luật Mĩ tạm hoãn các thủ tục tố tụng tiếp theo. Trách nhiệm chứng minh việc người này sẽ không chạy trốn hoặc gây nguy hiểm cho người khác hoặc cho cộng đồng thuộc về chính người đó”. Điểm 1 khoản c Nguyên tắc 32.1 quy định: “Trước khi sửa đổi các điều kiện cho việc tha có giám sát và quản chế, Toà án phải tiến hành xét xử và người này có quyền có người bào chữa, có cơ hội đưa ra lời khai và trình bày tình tiết giảm nhẹ hình phạt”. Điểm 4 khoản b Nguyên tắc 32.2 quy định: “Sau khi một bên có yêu cầu trong một vụ án Bồi thẩm đoàn tuyên án có tội, Bồi thẩm đoàn phải xem xét xác định chính phủ đã thiết lập được mối liên hệ thiết yếu giữa tài sản và tội phạm do bị cáo thực hiện hay chưa”. Khoản c Nguyên tắc 46 quy định: “… Trách nhiệm chứng minh bị cáo sẽ không chạy trốn hoặc gây nguy hiểm cho người khác hoặc cho cộng đồng thuộc về bị cáo”.

4. Đối tượng chứng minh trong pháp luật tố tụng hình sự Trung Quốc

Nghiên cứu BLTTHS Trung Quốc năm 1996(4) thì thấy rằng, trong Bộ luật này không có điều luật riêng quy định những vấn đề phải chứng minh trong VAHS. Mặc dù không được quy định bởi một điều luật riêng nhưng đối tượng chứng minh trong VAHS vẫn được quy định gián tiếp trong một số điều luật của Bộ luật này. Chẳng hạn như:

Điều 2 BLTTHS Trung Quốc năm 1996 quy định: “Mục đích của Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa là nhằm đảm bảo việc điều tra, làm sáng tỏ thực chất của tội phạm một cách chính xác, kịp thời…”. Điều 15 của Bộ luật quy định: “Không truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu đã tiến hành điều tra thì phải đình chỉ vụ án, hoặc không truy tố, đình chỉ việc xét xử hoặc tuyên vô tội trong bất kỳ trường hợp nào sau đây: 1. Hành vi vi phạm rõ ràng là không đáng kể, không gây nguy hại lớn, và do đó không bị coi là tội phạm; 2. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; 3. Được miễn hình phạt theo một quyết định ân xá đặc biệt; 4. Tội phạm bị xử lý dựa trên cơ sở khiếu nại, tố cáo theo quy định của Bộ luật hình sự, nhưng không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã rút khiếu nại, tố cáo; 5. Nghị can hoặc bị cáo đã chết; 6. Miễn truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của các luật khác”. Điều 42 quy định: “Mọi tình tiết chứng minh sự thật của vụ án đều là chứng cứ. Chứng cứ gồm 7 loại dưới đây: 1) Vật chứng, tài liệu làm chứng; 2) lời khai của người làm chứng; 3) lời khai của người bị hại; 4) lời khai và lời bào chữa của nghị can, bị cáo; 5) kết luận giám định; 6) biên bản khám nghiệm, điều tra; 7) tài liệu âm thanh, hình ảnh”. Điều 137 quy định: Khi thẩm tra các vụ án, Viện kiểm sát nhân dân phải làm rõ những điểm sau: 1) Tình tiết, sự việc phạm tội có rõ ràng hay không, chứng cứ có đáng tin cậy và đầy đủ hay không, việc buộc tội và tính chất của tội phạm có được xác định đúng hay không; 2) có bỏ lọt hành vi phạm tội và người phải truy cứu trách nhiệm hình sự nào không; 3) liệu vụ án có thuộc trường hợp không đến mức cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự hay không; 4) liệu vụ án có liên quan đến vụ kiện dân sự hay không; và 5) liệu hoạt động điều tra vụ án có được tiến hành hợp pháp không”. Những điều luật nêu trên trong BLTTHS Trung Quốc năm 1996 đã thể hiện gián tiếp những vấn đề phải chứng minh trong VAHS. Chẳng hạn như: Để đạt được mục đích đặt ra tại Điều 2 của Bộ luật này thì các chủ thể phải xác định và chứng minh tất cả những sự kiện, tình tiết của vụ án, trên cơ sở đó mới có thể làm sáng tỏ thực chất của tội phạm. Hoặc để có căn cứ không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ xét xử… thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh được một trong những tình tiết quy định tại Điều 15 của Bộ luật này.

Từ việc nghiên cứu pháp luật TTHS của các nước nêu trên, chúng tôi thấy quan điểm của các nước về đối tượng chứng minh trong VAHS như sau:

Một là, các nước đều quy định những vấn đề phải chứng minh trong VAHS trong pháp luật nước mình nhưng nội dung và cách thức quy định giữa các nước có sự khác nhau.

Hai là, có hai hình thức quy định những vấn đề phải chứng minh trong VAHS, đó là:

- Có điều luật riêng quy định những vấn đề phải chứng minh trong VAHS trong luật TTHS (Nga). Nội dung của điều luật là sự liệt kê những sự kiện, tình tiết của vụ án mà các chủ thể TTHS phải chứng minh, như: Có sự kiện phạm tội xảy ra hay không; lỗi của người thực hiện tội phạm, hình thức lỗi và động cơ phạm tội; những tình tiết về nhân thân bị can; tính chất và mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra; những tình tiết loại trừ tội phạm và hình phạt đối với hành vi; những tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Không có điều luật riêng quy định những vấn đề phải chứng minh trong VAHS (Pháp, Mỹ, Trung Quốc). Mặc dù không được quy định bởi một điều luật riêng nhưng ở những quốc gia này, đối tượng chứng minh trong VAHS vẫn được quy định gián tiếp trong một số điều luật cụ thể của luật TTHS hoặc luật khác. Chẳng hạn như: Khoản 1 Điều 81 BLTTHS Pháp quy định: “Dự thẩm tiến hành mọi hoạt động điều tra cần thiết để xác định sự thật theo đúng quy định của pháp luật… (5). Quy định này gián tiếp ghi nhận đối tượng chứng minh trong VAHS, được thể hiện ở chỗ, để xác định được sự thật của vụ án thì Dự thẩm phải chứng minh ai là người thực hiện tội phạm, thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra là gì và họ vi phạm quy định cụ thể nào. Hoặc điểm 1 khoản a Nguyên tắc 5 Các nguyên tắc liên bang về tố tụng hình sự năm 2006 của Mỹ quy định: “Nếu bị cáo bị bắt tại quận được cho là nơi đã xảy ra hành vi phạm tội: (A) Việc trình diện ban đầu phải ở tại quận đó” (6). Với cách quy định này, rõ ràng là muốn xác định được nơi trình diện ban đầu của bị cáo thì người hoặc cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh được nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.

Có nhiều lý do để giải thích cho sự khác nhau về cách thức ghi nhận đối tượng chứng minh trong pháp luật TTHS giữa các nước. Song, theo tác giả, lý do cơ bản để giải thích cho sự khác nhau này là do quan điểm của mỗi nước trong việc nhấn mạnh vai trò con người hay công cụ pháp luật trong việc chứng minh tội phạm. Để tiến hành các hoạt động TTHS nói chung và hoạt động xác định đối tượng chứng minh nói riêng thì ở quốc gia nào cũng cần phải có hai yếu tố, đó là con người và công cụ pháp luật nhưng sự nhìn nhận, đánh giá về vai trò của hai yếu tố này giữa các nước có sự khác nhau. Ở những nước nghiêng về vai trò của con người đối với hoạt động TTHS thì ở những nước đó, pháp luật TTHS không có điều luật riêng quy định những vấn đề phải chứng minh trong VAHS để những người có trách nhiệm chứng minh VAHS được chủ động trong việc điều tra, thu thập, đánh giá chứng cứ chứng minh tội phạm, miễn là các hoạt động đó không trái với những nguyên tắc được đặt ra trong pháp luật TTHS (Anh, Mỹ…). Trái lại, ở những nước nhấn mạnh vai trò của pháp luật đối với việc chứng minh trong VAHS thì ở những nước đó, pháp luật TTHS có điều luật riêng quy định những vấn đề phải chứng minh trong VAHS để làm căn cứ cho việc xác định đối tượng chứng minh cũng như phạm vi chứng minh VAHS, đồng thời định hướng cho hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ của các chủ thể TTHS (Nga).


(1) -  Đuma quốc gia liên bang Nga (2001), Bộ luật Tố tụng hình sự liên bang Nga, Viện khoa học kiểm sát - Viện kiểm sát nhân dân tối cao dịch, Hà Nội.

(2) - Nghị viện Cộng hòa Pháp (1996), Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa Pháp, (Nhà pháp luật Việt - Pháp dịch), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

(3) - Nghị viện Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (2006), Các nguyên tắc liên bang về tố tụng hình sự, Viện Khoa học kiểm sát - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao dịch, Hà Nội.

(4) - Quốc hội nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1996), Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Viện Khoa học kiểm sát - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao dịch, Hà Nội, tr. 3.

(5). Nghị viện Cộng hòa Pháp (1996), Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa Pháp, (Nhà pháp luật Việt - Pháp dịch), NXb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 55.

(6). Nghị viện Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (2006), Các nguyên tắc liên bang về tố tụng hình sự, Viện Khoa học kiểm sát - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao dịch, Hà Nội, tr. 11.

(Trích bài viết: “Đối tượng chứng minh trong pháp luật tố tụng hình sự của một số nước” của Thạc sĩ, Nghiên cứu sinh Vũ Xuân Thao, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, tạp chí Kiểm sát số 15/2018).

(kiemsat.vn)

Các nội dung liên quan

Các bài mới đăng