Liên kết website
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH Thống kê truy cập
Đang truy cập11
Tổng số lượt xem 664861
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm đối với Bản án số 04/2018/DS-ST ngày 28/11/2018 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp
Đăng lúc 31-01-2019 14:46:55
Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và thực hiện tốt chỉ tiêu về công tác kháng nghị theo Chỉ thị số 10/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về «Tăng cường nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm dân sự, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự ».

Vừa qua, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm đối với Bản án số 04/2018/ DS-ST ngày 28/11/2018 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp giữa Nguyên đơn: ông Vì Văn Tiếng. Trú tại: bản Bánh, xã Púng Bánh, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Bị đơn: ông Tòng Văn Lẻ. Trú tại: bản Bánh, xã Púng Bánh, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập: ông Vì Văn Luấn, trú tại: Trú tại: bản Bánh, xã Púng Bánh, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Nội dung vụ án như sau:

Năm 2006, ông Vì Văn Tiếng và ông Tòng Văn Lẻ có thỏa thuận đổi một mảnh nương với diện tích khoảng 4000m2. Sau khi đổi đất nương, ông Tiếng đã canh tác trên mảnh nương đã đổi được khoảng 2 năm, sau đó ông chưa có nhu cầu sử dụng nên đã bỏ hoang một thời gian. Còn mảnh nương của ông Tiếng đổi cho ông Lẻ thì ông Lẻ vẫn thường xuyên canh tác. Đến năm 2015, do có nhu cầu canh tác nên ông Tiếng đã phát nương đã đổi với ông Lẻ trước đây để làm thì ông Vì Văn Luấn trú cùng bản Bánh, xã Púng Bánh ngăn cản và ông Luấn cho rằng đây là đất nương của ông Luấn.  Ông Tiếng cho rằng ông Lẻ đã lừa dối đổi mảnh nương của người khác cho ông. Vì vậy, ông Tiếng đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Tòng Văn Lẻ trả lại cho ông mảnh nương mà ông đã đổi cho ông Lẻ với diện tích 4.000m2 thuộc khu vực Huổi Hụm, xã Púng Bánh, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

Ngày 28/11/2018, Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Nguyên đơn ông Vì Văn Tiếng và Bị đơn ông Tòng Văn Lẻ. Tại bản án Tại Bản án số 04/2018/DS-ST đã quyết định: Áp dụng các Điều 97, 203 Luật đất đai năm 2013, các Điều 26, 35, 39 khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự, các điều 163, 165 Bộ luật dân sự, khoản 2 Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội tuyên xử:

1. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vì Văn Tiếng về việc yêu cầu bị đơn ong Tòng Văn Lẻ trả lại diện tích đất nương tại xứ đồng Huổi Hụng bản Bánh, xã Púng Bánh huyện Sốp Cộp theo kết quả xem xét, thẩm định ngày 23/10/2018 như sau: tổng diện tích thửa đất là 2800m2, có tứ cận: phía Đông giáp ông Hóa, có chiều dài 40m, phía tây giáp bà Thiện, ông Hặc, có chiều dài 40m, phía nam giáp khe suối, có chiều dài 70m, phía Bắc giáp ông Đích, ông Thinh có chiều dài 70m.

2. Giao diện tích đất nương tại xứ đồng Huổi Hụng bản Bánh, xã Púng Bánh, huyện Sốp Cộp theo kết quả xem xét thẩm định ngày 23/10/2018 như sau: tổng diện tích thửa đất là 2800m2, có tứ  cận: phía đông giáp ông Hóa có chiều dài 40m, phía Tây giáp bà Thiện, ông Hặc có chiều dài 40m, phía nam giáp khe suối, có chiều dài 70m, phía bắc giáp ông Đích, ông Thinh có chiều dài 70m cho bị đơn ông Tòng Văn Lẻ quản lý, sử dụng.

Qua công tác kiểm sát bản án, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La xét thấy bản án sơ thẩm có những vi phạm về thủ tục tố tụng như sau: vi phạm quy định tại Điều 68 BLTTDS năm 2015 về việc xác định người tham gia tố tụng (bà Quàng Thị Yêng, vợ ông Vì Văn Tiếng, bà Tòng Thị Xuân vợ ông Tòng Văn Lẻ không được Tòa án sơ thẩm đưa vào tham gia tố tụng). Bản án xác định ông Vì Văn Luấn là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập. Qua kiểm sát tại hồ sơ nhận thấy, ông Vì Văn Luấn không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn, bị đơn. Tuy nhiên việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ, yêu cầu độc lập của ông Luấn có liên quan đến vụ án được giải quyết, và yêu cầu trên phải được giải quyết trong cùng vụ án nên Tòa án xác định tư cách tham gia tố tụng của ông Luấn là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập. Tuy nhiên thủ tục yêu cầu độc lập của ông Luấn không được Tòa án hướng dẫn đương sự viết đơn, tiến hành thủ tục thụ lý và nộp án phí là vi phạm quy định tại Điều 202 BLTTDS 2015. Các quyết định  gia hạn thời hạn xét xử ngày 30/5/2018, ngày 30/7/2018, 28/9/2018 đều do thẩm phán Lô Văn Long là người thụ lý giải quyết vụ án ký. Theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 203 BLTTDS 2015, các quyết định trên là do thẩm quyền của Chánh án Tòa án. Không tiến hành thu thập chứng cứ tại cơ quan chuyên môn để xác định mảnh đất đang tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn hay bị đơn.

Bên cạnh đó Bản án còn có những vi phạm về mặt nội dung: Ông Tiếng và ông Lẻ tranh chấp nhau đất nương, Ông Tiếng và ông Lẻ đều được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 25/12/1999. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng “Biên bản bàn giao đất” cho hộ gia đình ông Vì Văn Viếng không có thửa số 32, tờ bản đồ K3, mà chỉ có thửa số 61, tờ sơ đồ số 3 diện tích 4000m2 để bác yêu cầu khởi kiện của ông Tiếng mà không xem xét đến nội dung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q509720 do Uỷ ban nhân dân huyện Sông Mã cấp ngày 25/12/1999 mang tên ông Vì Văn Tiếng trong đó có thửa số 32, tờ bản đồ K3, diện tích 4000m2. Việc đánh giá chứng cứ có sự mâu thuẫn giữa biên bản bàn giao đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23/10/2018 đối với diện tích đất nương đang tranh chấp (ông Lẻ đang canh tác và sử dụng) so sánh với tứ cận tiếp giáp tại tờ sơ đồ số 3 sơ đồ tổng thể giao đất (có thửa 61, diện tích 4000m2) để kết luận mảnh đất nương đang tranh chấp không có vị trí tứ cận tiếp giáp tương đồng với yêu cầu khởi kiện của ông Tiếng. Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ tại chính quyền địa phương cũng như cơ quan chuyên môn để xác định rõ mảnh đất nương đang tranh chấp nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn hay bị đơn, chưa thu thập tài liệu chứng minh quá trình sử dụng đất, lời khai của chị Quàng Thị Yêng (vợ ông Tiếng) bà Tòng Thị Xuân (vợ ông Lẻ), lời khai của ông Vì Văn Luấn, sự mâu thuẫn giữa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 25/12/1999 mang tên ông Vì Văn Tiếng có vị trí thửa đất số 32, diện tích 4000m2 tờ bản đồ K5 với biên bản bàn giao đất có ghi thửa số 61, tờ bản đồ số 3 diện tích 4000m2 (không có thửa 32, tờ bản đồ K5 như trong giấy chứng nhận QSD đất của ông Tiếng).

Về quá trình sử dụng đất: theo bản tự khai của nguyên đơn ông Vì Văn Tiếng, đổi đất cho ông Lẻ từ năm 2001. Ông Tòng Văn Lẻ cho rằng ông Lẻ đổi đất cho ông Tiếng từ năm 1991. Cả hai bên nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận việc đổi đất nương cho nhau, nguyên đơn cho rằng canh tác được khoảng 2 năm thì bỏ hoang đến năm 2015 mới quay lại canh tác. Bị đơn thì canh tác liên tục từ khi đổi đất đến nay. Tuy nhiên bản án sơ thẩm lại không xác định được thời điểm đổi đất nương của các bên đương sự, mặc dù có lấy lời khai của người làm chứng về việc ông Tòng Văn Lẻ canh tác liên tục từ khi đổi đất đến nay.

Vì các lẽ trên, ngày 25/12/2018 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã ban hành Quyết định kháng nghị đối với Bản án số 04/2018/ DS-ST ngày 28/11/2018 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 308, Điều 310 đề nghị: Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.  

Có thể nói, việc ban hành kháng nghị có căn cứ, đúng pháp luật là góp phần thực hiện tốt Chỉ thị số 10/CT-VKSTC ngày 06/04/2016 của Viện kiểm sát tối cao về tiếp tục tăng cường công tác kháng nghị án dân sự. Thông qua hoạt động này, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm pháp luật thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân./.

                                       Bài: Phạm Thu Hà

Phòng 9 - VKSND tỉnh Sơn La

Các nội dung liên quan

Các bài mới đăng