Liên kết website
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH Thống kê truy cập
Đang truy cập13
Tổng số lượt xem 680896
Thời điểm thụ lý đơn phản tố của bị đơn
Đăng lúc 08-05-2019 14:32:48
Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định tại khoản 1: “Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập”. Tại khoản 2 quy định: “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”.

Nếu như BLTTDS năm 2004 quy định thời điểm bị đơn được quyền đưa ra yêu cầu phản tố là trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm thì BLTTDS năm 2015 quy định bị đơn chỉ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; bởi vì trước đây, có nhiều trường hợp bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố ngay từ đầu trong quá trình hòa giải mà đợi đến khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc tại phiên tòa mới đưa ra yêu cầu phản tố, việc này làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án, thậm chí là gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án. BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi theo hướng bị đơn chỉ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Quy định này là phù hợp thực tiễn, bởi vì ngay từ khi nhận được thông báo thụ lý vụ án, bị đơn đã được thông báo nếu có yêu cầu phản tố thì được quyền đưa ra yêu cầu phản tố cùng với việc nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn. Tương tự, trong suốt quá trình hòa giải, bị đơn cũng đã được giải thích quyền, nghĩa vụ của bị đơn trong đó có quyền đưa ra yêu cầu phản tố (nếu có); sau khi Tòa án kết thúc phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần cuối cùng mà bị đơn vẫn không đưa ra yêu cầu phản tố thì phải chịu hậu quả về việc không thực hiện quyền của mình. Quy định về thời điểm bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố cũng tương tự như quy định về thời điểm nguyên đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện.

Tại mục 7 phần III Văn bản số: 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ có giải đáp như sau: “Theo quy định tại Điều 5, khoản 4 Điều 70, khoản 2 Điều 71, khoản 3 Điều 200, khoản 2 Điều 210, Điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì:

- Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi, bổ sung được thực hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

- Tại phiên họp và sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì Tòa án chỉ chấp nhận việc đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu…”.

Như vậy, BLTTDS năm 2015 quy định là sau khi Tòa án đã kết thúc phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (có thể là lần cuối cùng trong vụ án) thì các đương sự không được quyền đưa ra hoặc đưa thêm yều cầu mới để Tòa án xem xét giải quyết.

Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay cách hiểu và cách áp dụng Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 còn có cách hiểu và áp dụng không thống nhất về thủ tục tố tụng cụ thể như trong vụ án sau:

Ngày 07/02/2018, TAND  thụ lý vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất theo đơn khởi kiện của Nguyên đơn A. Ngày 01/4/2018, phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải được tiến hành. Trước và tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải ngày 01/4/2018, Bị đơn B không có yêu cầu phản tố. Sau đó Tòa án tiếp tục phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải thêm 02 lần nữa, bị đơn B cũng không đưa ra yêu cầu phản tố. Ngày 21/8/2018, Tòa án tiến hành mở phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị hoãn phiên toà theo quy định tại Điều 241 BLTTDS 2015 (vì vắng mặt nguyên đơn). Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Ngày 29/8/2018, Bị đơn có đơn yêu cầu phản tố với nội dung: đề nghị nguyên đơn buộc phải tháo dỡ, di dời tài sản trên đất và trả lại diện tích đất cho nguyên đơn. Ngày 12/9/2018, Tòa án thông báo về việc thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn. Ngày 9/10/2018, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được tổ chức và sau đó ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử. Việc Tòa án thụ lý đơn phản tố của bị đơn như vụ án trên là không đúng theo quy định của BLTTDS năm 2015 vì:

Thứ nhất: Việc thụ lý đơn phản tố phải trước giai đoạn xét xử, nằm trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và hòa giải.Việc Tòa án thụ lý đơn phản tố trong giai đoạn phiên tòa xét xử sơ thẩm là vi phạm trình tự tố tụng bởi vụ án trên đã được Tòa án đưa ra xét xử vào ngày 21/8/2018. Tại phiên tòa, chủ tọa phiên tòa đã tiến hành khai mạc phiên tòa, đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, kiểm tra sự có mặt của những người tham gia tố tụng. Theo đề nghị của Kiểm sát viên vụ án được Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.

Thứ hai:  Đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất. Do đó, khi giải quyết vụ án đương nhiên, Hội đồng xét xử phải xem xét, quyết định phần đất tranh chấp là của ai. Nếu có căn cứ cho rằng đất là của bị đơn nhưng có tài sản của nguyên đơn trên đất thì Tòa án có thể buộc nguyên đơn phải tháo dỡ tài sản để trả lại đất cho bị đơn hoặc công nhận đất cho nguyên đơn, buộc nguyên đơn trả lại giá trị đất tương ứng cho bị đơn và trong trường hợp này nguyên đơn được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng tài sản của mình trên đất. Các đương sự không tranh chấp về tài sản trên đất mà chỉ tranh chấp về quyền sử dụng đất. Do đó, đối với yêu cầu di dời tài sản trên đất tranh chấp nếu bị đơn không đưa ra yêu cầu thì Hội đồng xét xử cũng cần phải xem xét giải quyết để vụ án được giải quyết triệt để.

Bài: Phạm Thu Hà 

Phòng 9 VKSND tỉnh Sơn La

Các bài mới đăng