Liên kết website
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH Thống kê truy cập
Đang truy cập5
Tổng số lượt xem 680782
Thông báo rút kinh nghiệm vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
Đăng lúc 09-05-2019 11:04:16
Ngày 04/5/2019, VKSND cấp cao tại Đà Nẵng ra Thông báo số 40/TB-VC2-V2 rút kinh nghiệm vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” bị Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Đà Nẵng hủy một phần Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự để giải quyết lại.

Nội dung vụ án

Nguyên đơn bà Phạm Thị N trình bày:

Ngày 24/11/2014 và ngày 12/2/2015, bà Nguyễn Thị Kim T vay của bà Phạm Thị N 975 000 000 đồng, hẹn đến năm 2016 sẽ trả. Khi vay tiền, bà T thế chấp cho bà N Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 073796 ngày 28/12/2011 do UBND huyện P, tỉnh B cấp cho bà Nguyễn Thị Kim T đối với thửa đất số 447, tờ bản đồ số 23, diện tích 74,2m2 tại thôn Dương Liễu Đông, thị trấn Bình Dương, huyện P, tỉnh B. Do bà T không trả nợ nên bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà T trả số tiền nợ nêu trên. Khi bà T trả đủ tiền, bà N sẽ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nếu bà T không trả nợ, bà N có quyền yêu cầu xử lý thửa đất để thu hồi nợ.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T trình bày:

Bà T thừa nhận có vay của bà N số tiền 975 000 000 đồng và thế chấp cho bà N một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 447, tờ bản đồ số 23, diện tích 74,2m2 như bà N đã trình bày. bà T chưa trả được tiền cho bà N, bà xin trả dần đến cuối tháng 06/2016 âm lịch. Nếu đến thời hạn đó, bà T không trả được nợ, bà N có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý thửa đất thế chấp để thu hồi nợ.

Quá trình giải quyết vụ án

Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 17/2016/QĐST-DS ngày 08/3/2016 của TAND huyện P, tỉnh B quyết định:

“Công nhận sự thỏa thuận giữa nguyên đơn bà Phạm Thị N và bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T, sự thỏa thuận được của các đương sự cụ thể như sau:

- Bà Phạm Thị N và bà Nguyễn Thị Kim T xác định thống nhất: Hiện nay, bà Nguyễn Thị Kim T nợ của bà Phạm Thị N số tiền 975 000 000 đồng (chín trăm bảy mươi lăm triệu đồng).

- Bà Phạm Thị N và bà Nguyễn Thị Kim T xác định thống nhất: Khi bà T vay tiền của bà N thì bà T thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sử dụng thửa đất số 447, tờ bản đồ số 23, diện tích 74,2m2 tọa lạc tại thôn Dương Liễu Đông, thị trấn Bình Dương, huyện P, tỉnh B đã được UBND huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất cho bà Nguyễn Thị Kim T để đảm bảo số tiền bà T vay của bà N.

- Bà Phạm Thị N và bà Nguyễn Thị Kim T thỏa thuận thống nhất: Đến ngày 04/6/2016, bà Nguyễn Thị Kim T trả dứt điểm số tiền 975 000 000 đồng cho bà Phạm Thị N. Sau khi bà T trả đủ số tiền cho bà N thì bà N trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất nêu trên (bản chính) cho bà T. Nếu đến hết ngày 04/6/2016, bà T không trả đủ nợ cho bà N thì bà N có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục chuyển nhượng, sang tên thửa đất bà T thế chấp cho bà N nói trên cho bà N để bà N thu hồi số tiền bà T nợ”.

Ngày 09/4/2018 và ngày 07/8/2018, bà Hồ Thị T, bà Nguyễn Thị P và bà Nguyễn Thị Ngọc D có đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nêu trên.

Ngày 21/8/2018, Viện trưởng VKSND cấp cao tại Đà Nẵng ban hành Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 97/2018/QĐKNGĐT-VKS-DS đề nghị Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Đà Nẵng hủy một phần Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 17/2016/QĐST-DS ngày 08/3/2016 của TAND huyện P, tỉnh B; giao hồ sơ cho TAND huyện P, tỉnh B giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 14/2019/DS-GĐT ngày 06/3/2019 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng đã chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND cấp cao tại Đà Nẵng, hủy một phần Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 17/2016/QĐST-DS ngày 08/3/2016 của TAND huyện P, tỉnh B đối với phần thỏa thuận giữa bà Phạm Thị N và bà Nguyễn Thị Kim T về việc xử lý thửa đất số 447, tờ bản đồ số 23 tại thôn Dương Liễu Tây, thị trấn Bình Dương, huyện P, tỉnh B; giao hồ sơ vụ án cho TAND huyện P, tỉnh B giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Những vấn đề cần rút kinh nghiệm

Về tố tụng:

Bà Phạm Thị N nộp đơn khởi kiện tại TAND huyện P, tỉnh B ngày 24/2/2016 nhưng Giấy báo nhận đơn khởi kiện của TAND huyện P, tỉnh B lại ghi ngày 17/2/2016 là không đúng.

Trong cùng một ngày, TAND huyện P, tỉnh B ban hành hàng loạt các văn bản, cụ thể: Thông báo nộp tạm ứng án phí số 09/2016/TB-TA ngày 29/2/2016; bà N nộp tạm ứng án phí ngày 29/2/2016; Thông báo về việc thụ lý vụ án số 104/2016/TB-TLVA ngày 29/2/2016; Biên bản giao Thông báo về việc thụ lý vụ án cho bà T và bà N ngày 29/2/2016; Thông báo về phiên hòa giải số 10/2016/TB-TA ngày 29/2/2016 và Biên bản giao Thông báo về phiên hòa giải cho bà T và bà N ngày 29/2/2016.

Tại Thông báo về phiên hòa giải số 10/2016/TB-TA ngày 29/2/2016 của TAND huyện P, tỉnh B, các đương sự được thông báo tiến hành hòa giải vào lúc 7h30’ ngày 04/2/2016 nhưng lúc 09h10’ ngày 29/2/2016, TAND huyện P, tỉnh B đã tiến hành lập Biên bản hòa giải vụ án, các bên đương sự hòa giải được với nhau nên Thẩm phán đã lập Biên bản hòa giải thành ngày 29/2/2016.

Ngày 08/3/2016, TAND huyện P, tỉnh B ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 17/2016/QĐST-DS.

Như vậy, Thông báo hòa giải của TAND huyện P, tỉnh B là ngày 04/2/2016 nhưng ngày 29/2/2016 đã tiến hành hòa giải là không đúng về thời gian và trong cùng ngày 29/2/2019, TAND huyện P, tỉnh B đã tiến hành hàng loạt các sự kiện pháp lý  để giải quyết vụ án là bất thường về mặt thời gian.

Về nội dung

Tại thời điểm TAND huyện P, tỉnh B thụ lý vụ án này, bà Phạm Thị T đang có nghĩa vụ phải thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bao gồm:

- Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 69/2015/QĐST-DS ngày 12/11/2015 của TAND huyện P, tỉnh B. Bà T phải trả nợ cho bà Hồ Thị T 156 100 000 đồng.

- Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 70/2015/QĐST-DS ngày 12/11/2015 của TAND huyện P, tỉnh B. Bà T phải trả nợ cho bà Nguyễn Thị P 148 000 000 đồng.

- Bản án dân sự phúc thẩm số 88/2015/DS-PT ngày 17/11/2015 của TAND tỉnh B. Bà T phải trả nợ cho bà Nguyễn Thị Ngọc D số tiền 1 900 000 000 đồng.

Ngoài ra, TAND huyện P, tỉnh B còn đang thụ lý giải quyết 02 vụ án khác của bà T, sau đó đã ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 37/2016/QĐST-DS ngày 18/5/2016. Bà T phải trả nợ cho bà Nguyễn Thị L 180 000 000 đồng và Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 39/2016/QĐST-DS ngày 20/5/2016. Bà T phải trả nợ cho ông Trương Quang T 200 000 000 đồng.

Như vậy, TAND huyện P, tỉnh B đã trực tiếp thụ lý, giải quyết rất nhiều vụ án của bà T và biết rõ bà T phải có nghĩa vụ trả nợ cho nhiều người theo các quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật. Nhưng khi giải quyết vụ án giữa bà N và bà T, TAND huyện P không tiến hành xác minh để xác định nghĩa vụ phải thi hành án của bà T. Trong khi đó, ngày 02/3/2016, Cơ quan thi hành án huyện P đã đề nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P tạm dừng thực hiện các thủ tục liên quan đến thửa đất số 447, tờ bản đồ số 23 của bà T. Đồng thời, Cơ quan thi hành án đã ra Quyết định cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản số 11/QĐ-CCTHA ngày 11/3/2016 đối với thửa đất nêu trên của bà T.

Nếu đúng theo thông báo hòa giải của TAND huyện P là ngày 04/3/2016 thì phải đến ngày 12/3/2016 mới ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Nhưng TAND huyện P lại tiến hành hòa giải vào ngày 29/2/2016 (cùng với ngày ban hành thông báo hòa giải) là trước thời gian Cơ quan thi hành án có văn bản đề nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P tạm dừng thực hiện các thủ tục liên quan đến thửa đất số 447 (ngày 02/3/2016) và Quyết định công nhận sự thỏa thuận được ban hành vào ngày 08/3/2016 là trước ngày ra quyết định kê biên (ngày 11/3/2016). Chính vì có Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nên Cơ quan thi hành án phải hủy Quyết định cưỡng chế kê biên đối với thửa đất số 447 của bà T.

Mặt khác, việc thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T đối với thửa đất số 447 cho bà N không có công chứng, chứng thực và không được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Việc TAND huyện P, tỉnh B quyết định công nhận việc thế chấp giữa bà N và bà T là không đúng quy định pháp luật.

Bà T chỉ có 01 thửa đất duy nhất để thi hành án cho tất cả các bản án, quyết định của Tòa án nhưng TAND huyện P, tỉnh B lại ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận chỉ nhằm mục đích để trả nợ riêng cho bà Phạm Thị N làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nhiều người.

Nguồn: vksndtc.gov.vn

Các nội dung liên quan

Các bài mới đăng