Liên kết website
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH Thống kê truy cập
Đang truy cập66
Tổng số lượt xem 714147
Điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và thực tiễn thi hành
Đăng lúc 26-07-2019 07:33:58

Kết hôn theo ngôn ngữ pháp lý được hiểu là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Theo đó, không phải cứ có tình yêu hay hai người muốn kết hôn là kết hôn, pháp luật quy định khi có đủ các điều kiện nhất định thì mới được kết hôn và được nhà nước công nhận là kết hôn hợp pháp. Tuy nhiên, không phải ai cũng nắm rõ pháp luật và hiểu hết các điều kiện để có thể kết hôn hợp pháp, bằng chứng cho thấy trên thực tế vẫn tồn tại rất nhiều cuộc hôn nhân là kết hôn trái pháp luật dẫn tới hậu quả là bị hủy kết hôn trái pháp luật.Kết hôn được coi là hợp pháp nếu đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.


Cụ thể các điều kiện bao gồm:

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này”

            Mặc dù khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình nam 2014 quy định cụ thể về điều kiện kết hôn nhưng trong thực tiễn thi hành còn gặp phải những khó khăn, vướng mắc:

Về điều kiện tuổi kết hôn: Điều kiện về tuổi kết hôn, được quy định tại Điều 8, nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên, một số nước và vùng lãnh thổ quy định về tuổi kết hôn thấp hơn so với Việt Nam; nếu áp dụng pháp luật nước ngoài đối với quan hệ Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam thì có được áp dụng hay không? Ngoài ra, thực tiễn thi hành quy định về tuổi kết hôn còn rất nhiều bất cập giữa quy định của pháp luật và tập quán về tuổi kết hôn. Ở một số địa phương, cộng đồng, người dân vẫn kết hôn theo độ tuổi trong tập quán dẫn tới tình trạng tảo hôn vẫn còn tồn tại ở các nhóm cộng đồng này đặc biệt tỷ lệ kết hôn trước tuổi luật định ở vùng cao, nơi đồng bào dân tộc ít người sinh sống còn khá cao. Nhưng trên thực tế khá nhiều nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng chưa tới độ tuổi này và Pháp luật về hộ tịch vẫn thừa nhận quyền làm mẹ của người chưa đủ 18 tuổi, vẫn được đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú.

- Điều kiện về sự tự nguyện của nam, nữ: Trong luật Hôn nhân và gia đình cũng như các văn bản hướng dẫn cũng hướng dẫn về những trường hợp bị coi là một bên lừa dối nhưng là dưới dạng liệt kê hành vi như:lừa dối là nếu kết hôn sẽ xin việc cho, nếu kết hôn thì bảo lãnh ra nước ngoài,... chứ không có những tiêu chí như thế nào là " lừa dối", không khái quát được hết các trường hợp lừa dối khiến cho việc xác định hành vi lừa dối trong hôn nhân có nhiều vướng mắc.Trên thực tế sự tự nguyện chỉ có thể được xác định thông qua hành vi thể hiện ý chí của người kết hôn trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc kết hôn. Bản thân yếu tố chủ quan bên trong như tình cảm, mong muốn, nguyện vọng của người kết hôn như thế nào thì lại khó có thể biết. Bên cạnh đó vấn đề thẩm định sự tự nguyện kết hôn có yếu tố nước ngoài còn nhiều hạn chế, nhất là trong cách tiến hành phỏng vấn. Một số cơ quan nhà nước vẫn tiến hành phỏng vấn một cách hời hợt cho qua, chưa làm đúng với tinh thần và tầm quan trọng của thủ tục phỏng vấn, cán bộ biết tiếng nước ngoài cũng không nhiều nên nhiều khi cán bộ phỏng vấn không hiểu được các đương sự nói gì.

- Những trường hợp cấm kết hôn.

+ Quy định về cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời không có tính khả thi khi áp dụng tại các vùng dân tộc thiểu số. (Ví dụ như đồng bào dân tộc Xinh Mun trên địa bàn huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La còn có hôn nhân cận huyết nhiều)

+ Kết hôn trái pháp luật được hiểu: “ Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này”. Như vậy trong Điều 8 có dẫn chiếu đến các điểm a,b,c,d khoản 2 Điều 5 của Luật quy định các hành vi bị cấm. Trong đó tại điểm c quy định cấm “ Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”. Những trường hợp người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác trên thực tế xãy ra khá nhiều, ảnh hưởng không nhỏ đến danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ nói riêng, phá vỡ hạnh phúc gia đình vốn đang tốt đẹp, nhưng rất khó giải quyết. Muốn xác định chung sống như vợ chồng với nhau phải đáp ứng nhiều khía cạnh pháp lý, do vậy đường lối giải quyết của địa phương đa phần là vận động, giải thích pháp luật để các bên chấm dứt quan hệ sai trái.

+ Về việc xác định thế nào là người đang có vợ, có chồng. Trên thực tế việc xác định tình trạng hôn nhân của các bên không phải lúc nào cũng đơn giản. Tuy nhiên rất khó xác định họ chung sống với nhau từ thời điểm nào, thế nào là chung sống với như vợ chồng, đặc biệt đối với những cặp không sống chung thường xuyên tại một địa phương. Vì vậy dẫn đến tình trạng người đang có vợ hoặc có chồng vẫn được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận yêu cầu đăng kí kết hôn.

+ Về quy định cấm người mất năng lực hành vi dân sự. Người mất năng lực dân sự được hiểu là người bị mắc căn bệnh làm mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi và có quyết định của Tòa án tuyên bố người đó bị mất năng lực hành vi dân sự. Trên thực tế có rất ít người là ông, bà, cha, mẹ, anh, chị,em.... yêu cầu tòa án tuyên bố người thân của mình bị mất năng lực hành vi dân sự nên vẫn có nhiều trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự được đăng kí kết hôn. Nhiều cơ quan đăng kí kết hôn còn lúng túng trong việc xác minh người này có thuộc diện cấm kết hôn không. Thực tiễn giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình liên quan vấn đề này đã phát sinh vấn đề: Có nhiều trường hợp vì một số lý do mà kết hôn với người thực tế không thể nhận thức, không làm chủ được hành vi của mình nhưng chưa bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, khi nhận ra hoặc không thể chung sống với người này được nữa, người vợ/ chồng có nhu cầu muốn ly hôn được hướng dẫn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật theo quy định. Tòa án thụ lý yêu cầu giải quyết hủy hôn nhân trái pháp luật của cơ quan có thẩm quyền (cụ thể là Hội liên hiệp phụ nữ,…) thì gặp phải ý kiến phản đối của phía gia đình người vợ/chồng và Ủy ban nhân dân nơi cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Ủy ban nhân dân nơi cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn cho rằng: Họ đã tiến hành làm thủ tục đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật (vì người vợ/chồng chưa bị Toà án tuyên bố là mất năng lực hành vi dân sự. Do đó người vợ/chồng tuy không thể nhận thức, không làm chủ hành vi nhưng chưa có quyết định của Tòa án tuyên người đó mất năng lực hành vi dân sự thì vẫn coi là người bình thường). Một số trường hợp kết hôn và đã gây hậu quả xấu cho xã hội.

+ Quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đặc biệt đối với trường hợp chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987. Theo quy định tại Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/06/2000 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình thì những trường hợp này xem như đã có đăng ký kết hôn, trong mọi giao dịch của họ được xem là vợ chồng hợp pháp. Nhưng trên thực tế đối với trường hợp này khi tham gia giao dịch ở một số lĩnh vực khác như cư trú, đất đai chẳng hạn thì cơ quan tiếp nhận yêu cầu xuất trình giấy chứng nhận kết hôn để chứng minh quan hệ vợ chồng hợp pháp. Từ đó, đã lộ ra những hạn chế nhất định.

Để góp phần nâng cao công tác quản lý nhà nước, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật về điều kiện kết hôn, cần một số Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về điều kiện kết hôn như sau:

Thứ nhất, Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền: Cần có những biện pháp giáo dục, tuyên truyền hợp lý để nâng cao tinh thần tuân thủ pháp luật của người dân. Bên cạnh đó cũng cần có những biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả của việc thẩm định sự tự nguyện kết hôn và nâng cao trình độ của các cán bộ trong các cơ quan nhà nước như tình trạng người thuộc trường hợp cấm kết hôn vẫn kết hôn.

Thứ hai, Cần sửa đổi khoản 3 điều 8 luật Hôn nhân và gia đình theo hướng giống như điểm b điều 7 Luật HN & GĐ năm 1986 chỉ quy định người mất năng lực hành vi dân sự là người không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, khi có yêu cầu đăng kí kết hôn sẽ được cơ quan giám định tư pháp xác định xem có đủ điều kiện sức khỏe không. Để hạn chế tình trạng nhiều người thực tế đã rơi vào tình trạng mất năng lực hành vi dân sự nhưng chưa bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự vẫn được cho đăng ký kết hôn, dẫn đến những hậu quả xấu cho xã hội, Luật Hôn nhân và gia đình cần quy định chi tiết hơn về trường hợp này theo hướng: trong trường hợp có dấu hiệu bị mất năng lực hành vi dân sự… thì chính quyền địa phương phải có trách nhiệm kiểm tra, xem xét trước khi cho đăng ký kết hôn.

 Thứ ba, Cần có quy định thủ tục rõ ràng xác minh quan hệ nhân thân của các bên kết hôn. Công tác đăng kí và quản lý hộ tịch cần quy định rõ thủ tục xác minh quan hệ nhân thân của người kết hôn, kết quả phải được thể hiện bằng văn bản.

Thứ tư, Phát huy một cách tối ưu đối với những quy định trong pháp luật chuyên ngành. Bởi vì pháp luật chuyên nganh đã được các chuyên gia có kiến thức pháp luật về chuyên môn rất cao và được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn. Tránh trường hợp luật chuyên ngành đã quy định khá cụ thể, nhưng khi áp dụng lại bị ràng buộc bởi văn bản pháp luật khác có liên quan. Từ đó tạo ra khe hở, dẫn đến sự tùy tiện cho người thực hiện. Cần có quy định của pháp luật thể hiện trong văn bản một cách cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện, tránh việc quá nhiều văn bản cùng quy định cho một nội dung hoặc nhiều Điều, Khoản của văn bản quy định cho một vấn đề, làm cho người thực hiện xác định dẫn chiếu pháp luật sai.

Thứ năm, Xây dựng hệ thống danh mục các tập quán tốt đẹp trong hôn nhân và gia đình để áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước.

Bài: Phạm Thu Hà 

Phòng 9 - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La

Các nội dung liên quan

Các bài mới đăng