Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta quyết tâm phấn đấu thực hiện thành công Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh!
Liên kết website
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH Thống kê truy cập
Đang truy cập16
Tổng số lượt xem 1728554
Chế định hòa giải, đối thoại tại Tòa án - Những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn
Đăng lúc 15-09-2021 16:16:52

Hòa giải, đối thoại là chế định mới được pháp luật quy định, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2021. Mục đích của chế định này đó là: Tạo sự thân thiện, đồng thuận trên nguyên tắc để các đương sự ngồi lại với nhau, cùng nhìn nhận lại sự việc, hòa giải, đối thoại góp phần hàn gắn những mâu thuẫn, rạn nứt trong gia đình và cộng đồng xã hội. Hòa giải thành, đối thoại thành giúp giải quyết triệt để, hiệu quả các tranh chấp mà không phải mở phiên tòa xét xử. Mặt khác, giúp tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức của các bên liên quan, giúp Nhà nước, đặc biệt là các Cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết được khối lượng lớn công việc, đồng thời cũng là phương thức giúp hạn chế được nhiều tranh chấp, khiếu kiện kéo dài không có hồi kết, gây bức xúc trong dư luận xã hội.


Sau khi ban hành, ngày 16/11/2020 Tòa án nhân dân (TAND) tối cao đã ban hành 03 Thông tư hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án (LHGĐT); cụ thể: Thông tư số 02/2020/TT-TANDTC quy định chi tiết về trách nhiệm của TAND trong hoạt động hòa giải, đối thoại tại Tòa án (Thông tư số 02/2020/TT-TANDTC); Thông tư số 03/2020/TT-TANDTC quy định chi tiết về trình tự nhận, xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu tại Tòa án và chỉ định Hòa giải viên (Thông tư số 03/2020/TT-TANDTC) và Thông tư số 04/2020/TT-TANDTC quy định chi tiết quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, xử lý vi phạm; cấp và thu hồi thẻ Hòa giải viên (Thông tư số 04/2020/TT-TANDTC). Là người thực hiện pháp luật tại địa phương, tác giả không phủ nhận giá trị của Chế định Hòa giải, đối thoại mang lại đối với đời sống xã hội. Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu và thi hành pháp luật có liên quan đến Chế định này; tác giả nhận thấy có một số tồn tại, hạn chế của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án và cần phải sớm có Hướng dẫn (Nghị quyết, Thông tư liên tịch,…) cụ thể, chi tiết và phù hợp với luật khác, đặc biệt là Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) để áp dụng trong thực tiễn; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Công dân.

Để tiện cho độc giả theo dõi và trao đổi; Tác giả xin được tổng quan và đánh giá Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án được hiểu ở các bình diện sau: Giai đoạn đầu (tiền hòa giải), giai đoạn hòa giải và giai đoạn sau hòa giải. Qua đó, tác giả nêu ra những vướng mắc, bất cập và mâu thuẫn với Luật khác, đặc biệt là BLTTDS.

1. Giai đoạn đầu (tiền hòa giải)

Phạm vi và Điều luật áp dụng: Bắt đầu từ khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền và kết thúc khi có quyết định chỉ định Hòa giải viên của Thẩm phán được phân công phụ trách hòa giải. Điều 16 đến Điều 19 LHGĐT điều chỉnh giai đoạn này.

Điều 16. Trình tự nhận, xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu tại Tòa án và chỉ định Hòa giải viên

1. Người khởi kiện, người yêu cầu gửi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính kèm theo tài liệu, chứng cứ đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 190 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 119 của Luật Tố tụng hành chính.

2. Tòa án nhận đơn, vào sổ nhận đơn, xác nhận việc nhận đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 121 của Luật Tố tụng hành chính.

3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 4, 6 và 7 Điều 19 của Luật này thì Tòa án thông báo bằng văn bản cho người khởi kiện, người yêu cầu biết về quyền được lựa chọn hòa giải, đối thoại và lựa chọn Hòa giải viên theo quy định của Luật này.

 Quy trình này bắt đầu khi người khởi kiện nộp đơn đến Tòa án nhưng Tòa án chưa xem xét đơn khởi kiện để thụ lý như quy định của BLTTDS (khoản 3 Điều 191 BLTTDS) mà phải xem xét xử lý để giải quyết hòa giải tại Tòa án theo LHGĐT trước theo sự lựa chọn của đương sự. Bên cạnh đó, Tòa án vẫn phải xác định quan hệ pháp luật tranh chấp mà người khởi kiện thực hiện việc khởi kiện có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án hay không? Giai đoạn tiền hòa giải là đặc biệt quan trọng, giai đoạn này có nhiệm vụ: xác định thẩm quyền giải quyết, phạm vi giải quyết và đặc biệt lựa chọn phương thức pháp luật điều chỉnh (LHGĐT hoặc BLTTDS) để giải quyết. Mặc dù hai phương thức pháp luật này không xung đột nhưng rất dễ nhầm lẫn. Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều quan điểm trái chiều của nhà làm luật và các độc giả, tác giả xin đưa ra hai quan điểm chính:

Một là, Xác định thẩm quyền các tranh chấp để tiến hành hòa giải theo LHGĐT vẫn phải tuân theo quy định về thẩm quyền của BLTTDS.

Hai là, Xác định thẩm quyền của Tòa án để tiến hành hòa giải theo LHGĐT cần tách bạch với thẩm quyền của Tòa án theo quy định của BLTTDS.

Tác giả đồng ý với quan điểm thứ nhất, bởi lẽ:

Thứ nhất, Khoản 2 Điều 1 và khoản 2 Điều 16 LHGĐT và điểm a khoản 2 Điều 2 Thông tư số 03/2020/TT-TANDTC quy định: “…nếu đơn khởi kiện được gửi đến Tòa án không đúng thẩm quyền thì quá trình hòa giải chấm dứt và Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán xem xét giải quyết đơn khởi kiện theo quy định của BLTTDS năm 2015”. Đây là căn cứ pháp lý vô cùng quan trọng cho thấy khi xác định thẩm quyền các tranh chấp để tiến hành hòa giải theo LHGĐT vẫn phải tuân theo quy định về thẩm quyền của BLTTDS.

Thứ hai, Việc người khởi kiện nộp đơn khởi kiện đến Tòa, Tòa án nhận đơn, vào sổ nhận đơn và xác nhận việc nhận đơn đã làm phát sinh đồng thời hai quan hệ pháp luật là [1] quan hệ hòa giải, đối thoại do LHGĐT điều chỉnh và [2] quan hệ tố tụng dân sự do BLTTDS điều chỉnh. Do vậy, không thể tách bạch về thẩm quyền của BLTTDS.

 Thứ ba, người khởi kiện khi nộp đơn khởi kiện tại Tòa án là họ mong muốn giải quyết tranh chấp của mình bằng con đường Tòa án. Ngoài ra, hoạt động hòa giải theo LHGĐT cũng là hòa giải tại Tòa án nên việc xem xét thẩm quyền giải quyết có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là cần thiết và quan trọng.

Thứ tư và cũng là nội dung mới chưa có tác giả nào đề cập đến đó là tính chất (giá trị pháp lý) của biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại tại Tòa án, cụ thể quy định tại điểm e khoản 1 Điều 31 LHGĐT: “Ý kiến của các bên về việc yêu cầu hoặc không yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành…”.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 31 LHGĐT thì biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại tại Tòa án gồm có các thành viên tham gia và ký tên xác nhận gồm: Các bên, người đại diện, người phiên dịch; Hòa giải viên và Thẩm phán tham gia phiên họp.

Thực tiễn sẽ xảy ra việc, các đương sự hòa giải thành. Tuy nhiên, vì một lý do nào đó các đương sự đều không yêu cầu Tòa án (Thẩm phán) ra Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành như: Thuận tình ly hôn, chia tài sản chung, vay nợ chung, con chung,…Một thời gian sau, phát sinh mâu thuẫn trả nợ chung, nghĩa vụ nuôi con hoặc một trong các bên lấy vợ, chồng,…khi đó xuất trình biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại tại Tòa án (không phải Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án) có được UBND có thẩm quyền đăng ký kết hôn, Tổ chức tín dụng,…chấp thuận không? Đây là vấn đề mới, đang bỏ ngỏ, LHGĐT chưa điều chỉnh. Thời gian tới sẽ phải có Hướng dẫn về nội dung này.

2. Giai đoạn hòa giải

Phạm vi và Điều luật áp dụng: Bắt đầu tiếp theo sau giai đoạn tiền hòa giải đến khi tổ chức thành công phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án. Điều 20 đến Điều 31 LHGĐT điều chỉnh giai đoạn này. Thời gian để hòa giải viên thực hiện hòa giải là hai mươi (20) ngày, các bên có thể thống nhất kéo dài nhưng không quá 02 tháng.

Giai đoạn này, thực tiễn giải quyết các vụ án, vụ việc đã gặp rất nhiều khó khăn; thậm chí không thể thực hiện được. Dưới phạm vi và thời lượng bài viết, tác giả đề cập một số khó khăn chủ yếu, mang tính chất quyết định đến kết quả hòa giải, cụ thể:

Thứ nhất, thực hiện khoản 5 Điều 21 LHGĐT: “Yêu cầu các bên bổ sung thông tin, tài liệu, chứng cứ;…”. Tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định thành công của hòa giải và được thể hiện trong biên bản ghi nhận kết quả hòa giải. Ngay cả giải quyết theo thủ tục Tố tụng dân sự, Thẩm phán gặp rất nhiều khó khăn trong công tác này. BLTTDS còn có chế tài trong lĩnh vực này đó là khi người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 BLTTDS thì sẽ trả lại đơn khởi kiện. Tuy nhiên, hiện nay LHGĐT không có quy định và không có chế tài về việc đương sự không bổ sung tài liệu, chứng cứ. Hơn nữa, LHGĐT không có quy định về việc Hòa giải viên thu thập thông tin, tài liệu chứng cứ; đặc biệt là các tranh chấp có liên quan đến động sản, bất động sản, những tài sản phải đăng ký chủ sở hữu của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Thứ hai, Xác định người tham gia tố tụng. Nếu như các đương sự không bổ sung, cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Hòa giải viên thì Hòa giải viên không thể xác định đầy đủ, chính xác người tham gia hòa giải được. Đặc biệt những tài sản, quyền lợi do người thứ 3 nắm giữ hoặc vay nợ giữa các bên. Từ đó, không thể xây dựng được phương án hòa giải.

Thứ ba, Xem xét hiện trạng tài sản liên quan đến tranh chấp, khiếu kiện trước khi lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại. Đây là quy định mở, Hòa giải viên có quyền. Tuy nhiên, trên thực tiễn rất khó thực hiện, bởi lẽ: Xem xét hiện trạng tài sản (bất động sản hoặc động sản như: đất đai, oto, tàu thủy,..). Hòa giải viên phải mời các bên tham gia và phải mời các cơ quan quản lý về bất động sản (cơ quan quản lý đất, Tài nguyên Môi trường,…), cơ quan quản lý về động sản (Cơ quan đăng ký quyền sở hữu, kiểm định phương tiện, định giá,…). Hiện nay, LHGĐT không có quy định và thẩm quyền Hòa giải viên được mời hoặc yêu cầu phối hợp hoặc cung cấp thông tiên liên quan đến tài sản.

3. Giai đoạn sau hòa giải

Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án quy định: 1. Sau khi lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, biên bản ghi nhận kết quả đối thoại, Hòa giải viên chuyển biên bản cùng tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính để ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành trong trường hợp các bên có yêu cầu.

Phạm vi và Điều luật áp dụng: Sau khi các bên hòa giải thành, Hòa giải viên sẽ tiến hành ghi nhận kết quả bằng biên bản. Nếu các bên có yêu cầu, Hòa giải viên chuyển toàn bộ tài liệu cùng biên bản hòa giải thành đến Tòa án có thẩm quyền để ra Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành. Điều 32 đến Điều 35 LHGĐT điều chỉnh giai đoạn này. Thời hạn chuẩn bị ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành là 15 ngày kể từ ngày Tòa án nhận được biên bản và tài liệu kèm theo.

Giai đoạn này chỉ có 04 Điều luật điều chỉnh, Tuy nhiên, quá trình thực hiện tại địa phương có nhiều vướng mắc và nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể:

Về thụ lý vụ án, Có quan điểm cho rằng, sau khi tiếp nhận tài liệu cùng biên bản hòa giải thành, Tòa án phải tiến hành thụ lý vụ án và phân công Thẩm phán xem xét ban hành Quyết định Công nhận hòa giải thành nếu đủ điều kiện hoặc ra Quyết định không công nhận hòa giải, đối thoại thành khi thuộc các trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 32 LHGĐT.

Quan điểm của tác giả, Tòa án không phải thụ lý vụ án, bởi: (1) khoản 1 Điều 32 LHGĐT chỉ quy định sau khi nhận được biên bản hòa giải thành và tài liệu kèm theo, Tòa án ra Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành (không quy định phải thụ lý vụ việc), (2) Hòa giải, đối thoại tại Tòa án là hoạt động do Hòa giải viên tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ việc. Nếu các bên thông qua hòa giải hoặc đối thoại, tự nguyện thỏa thuận, thống nhất về việc giải quyết một phần hoặc toàn bộ vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính thì được coi là hòa giải thành và đối thoại thành. Việc Tòa án ra Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành là đương nhiên vì thế mà không phải ra thông báo thụ lý vụ việc, (3) Điều 41 LHGĐT quy định rõ, Hòa giải viên chỉ chuyển hồ sơ, tài liệu đến Tòa án để thụ lý, giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, hành chính khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2,3,4,5,6 Điều 40 LHGĐT, (4) giả sử, Tòa án có thụ lý theo thủ tục chung thì trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công chỉ được ra một trong bốn Quyết định quy định tại khoản 3 Điều 203 BLTTDS, cụ thể: a) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; c) Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; d) Đưa vụ án ra xét xử”. Theo đó, Thẩm phán không được ra Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành.

Về thời hạn, Thời hạn chuẩn bị ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành là 15 ngày kể từ ngày Tòa án nhận được biên bản và tài liệu kèm theo.

Chúng tôi thấy, thời hạn 15 ngày để Thẩm phán nghiên cứu, xem xét ban hành Quyết định là không khả thi, khó có thể thực hiện được, bởi lẽ: (!) một số vụ án có việc phân chia tài sản là bất động sản, động sản ở nhiều địa phương, do nhiều cơ quan quản lý sở hữu,…Thẩm phán phải yêu cầu cơ quan tổ chức cung cấp thông tin có liên quan để xem xét, quyết định; thậm chí một số vụ việc Thẩm phán phải xem xét lại hiện trạng bất động sản, thẩm định tại chỗ,…(!!) một số vụ việc có nhiều người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tham gia nhưng Hòa giải viên chưa xem xét đầy đủ; (!!!) Khoản 3 Điều 208 Bộ luật TTDS quy định: “Đối với vụ án tranh chấp về nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Thẩm phán phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên, trường hợp cần thiết có thể mời đại diện cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em chứng kiến, tham gia ý kiến…..”. Tuy nhiên, LHGĐT không có quy định này nên Hòa giải viên không thực hiện. Đến giai đoạn chuẩn bị ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành; Thẩm phán bắt buộc phải thực hiện nội dung này (lấy ý kiến của các con).

Về thi hành Quyết định, Hoạt động hòa giải đối thoại tại Tòa án là hoạt động ngoài tố tụng, nên quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành của Tòa án ban hành không phải là văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính và có hiệu lực thi hành ngay. Nếu phát hiện quyết định đó vi phạm những điều kiện công nhận, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; Luật HGĐT đã có cơ chế khắc phục đó là xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án theo thủ tục riêng.

Tuy nhiên, khoản 2 Điều 35 LHGĐT quy định: “Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành sẽ được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự”. Hiện nay, căn cứ Điều 482 BLTTDS không có Quyết định nào là Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành theo LHGĐT. Luật Thi hành án dân sự cũng không có quy định (phạm vi điều chỉnh của LTHADS là những bản án, quyết định dân sự được ban hành theo thủ tục tố tụng dân sự quy định tại BLTTDS”. Do vậy, quá trình thực hiện còn vướng mắc cần sớm có Hướng dẫn của Cơ quan có thẩm quyền.

Với Ngành kiểm sát nhân dân, quá trình thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp cũng gặp một số khó khăn, vướng mắc có liên quan đến LHGĐT, cụ thể:

Một là, khó khăn trong việc thụ lý. Quyết định số 399/QĐ-VKSTC ngày 06/9/2019 của Viện trưởng VKSND tối cao ban hành về quy trình, kỹ năng kiểm sát bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự của Tòa án thì sau khi nhận được quyết định do Tòa án chuyển đến, Viện kiểm sát phải vào Sổ thụ lý kiểm sát quyết định. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy trước khi ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, Tòa án không tiến hành thụ lý vụ việc. Như vậy, Tòa án không thụ lý vụ việc nhưng lại có kết quả giải quyết. Vậy khi kiểm sát Quyết định trên, Kiểm sát viên sẽ tiến hành cập nhật trong cột, mục nào? Việc nhập sổ sách hay nhập phần mềm sẽ được tiến hành cập nhật ra sao.

Hai là, LHGĐT không quy định cụ thể quyền Kiến nghị của Viện kiểm sát. Ngoài các trường hợp Viện kiểm sát thực hiện quyền Kiến nghị theo quy định tại Điều 33 Luật này, một số trường hợp khác gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức Thi hành án dân sự thì chưa quy định, thực tiễn có thể xảy ra: Quyết định nêu chung chung về chia tài sản chung; thời gian chăm sóc con chung, thăm nuôi,…

Ba là, Khó khăn trong quá trình kiểm sát Thi hành án dân sự (như đã phân tích kỹ tại phần trên).

LHGĐT đã có Thông tư số 03/2020/TT-TANDTC hướng dẫn cụ thể hoạt động hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Tuy nhiên, quá trình thực hiện trong thực tiễn vẫn gặp một số khó khăn, vướng mắc như phân tích, đánh giá nêu trên. Để đảm bảo pháp luật được chấp hành thống nhất, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Công dân. Tác giả thiết nghĩ, Liên ngành Trung ương cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể để thực thi LHGĐT được triệt để, phù hợp với Hệ thống pháp luật hiện hành, đặc biệt là BLTTDS.

Tác giả bài viết mong nhận được sự quan tâm, chia sẽ và trao đổi của các độc giả trong và ngoài Ngành./.

Tác giả: Tạ Hữu Huy

Viện trưởng - Viện KSND huyện Phù Yên

Các nội dung liên quan

Các bài mới đăng