Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta quyết tâm phấn đấu thực hiện thành công Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh!
Liên kết website
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH Thống kê truy cập
Đang truy cập9
Tổng số lượt xem 1115068
Thông báo rút kinh nghiệm giải quyết vụ việc dân sự
Đăng lúc 03-09-2020 10:07:59

Thông qua công tác kiểm sát xét xử giám đốc thẩm việc dân sự: “Yêu cầu xác định phần quyền sở hữu tài sản chung vợ chồng để thi hành án” giữa người yêu cầu là ông Nguyễn Văn T - Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đ với người có liên quan đến việc giải quyết việc dân sự là vợ chồng bà Phạm Thị A và ông Vũ Văn B, bị TAND cấp cao tại Đà Nẵng hủy quyết định của cấp sơ thẩm để thụ lý, giải quyết lại sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.


1. Tóm tắt nội dung việc dân sự

Bà Phạm Thị A có nghĩa vụ thi hành án theo nội dung Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 05/2016/QĐST-DS của TAND huyện C, tỉnh Đ nên ngày 23/02/2016, Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đ ban hành Quyết định thi hành án số 461/QĐ-CCTHADS để thi hành.

Tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của bà Phạm Thị A, ông Nguyễn Văn T nhận thấy quyền sử dụng đối với thửa đất số 163, tờ bản đồ số 9a, diện tích 40m2, tại huyện C, tỉnh Đ là tài sản chung của vợ chồng bà Phạm Thị A và ông Vũ Văn B theo nội dung Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR647481 của UBND huyện C, tỉnh Đ. Do vậy, ngày 06/9/2016, ông Nguyễn Văn T gửi đơn yêu cầu TAND huyện C thụ lý, giải quyết việc dân sự: “Yêu cầu xác định phần quyền sở hữu tài sản và phần quyền sử dụng đất trong khối tài sản chung của vợ chồng để thi hành án” nhằm xác định phần quyền sở hữu tài sản của bà Phạm Thị A trong khối tài sản chung vợ chồng đối với thửa đất số 163 nêu trên.

Ngày 01/12/2016, TAND huyện C tiến hành xác minh tại địa chỉ của bà Phạm Thị A được ghi trong đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn T thì được chính quyền địa phương cung cấp: Bà Phạm Thị A đã chuyển đến cư trú tại huyện E, tỉnh Đ. Sau đó, TAND huyện C ủy quyền cho TAND huyện E xác minh tại địa chỉ Thôn 5, xã X, huyện E nhưng kết quả không có ai là Phạm Thị A và Vũ Văn B sinh sống tại đây.

Hết thời gian ấn định nêu trên, TAND huyện C nhận định: Người yêu cầu là ông Nguyễn Văn T không cung cấp được địa chỉ của người có liên quan đến việc giải quyết việc dân sự là bà Phạm Thị A nên thuộc trường hợp chưa đủ điều kiện yêu cầu theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự, từ đó ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự và trả lại đơn yêu cầu.

2. Quá trình giải quyết của Tòa án

Quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự và trả lại đơn yêu cầu số 27/2017/QĐST-VDS ngày 03/5/2017 của TAND huyện C quyết định:

“Đình chỉ giải quyết việc dân sự thụ lý số 40/2017/TLST-VDS ngày 03/02/2017 về việc xác định quyền sở hữu tài sản và phần q

uyền sử dụng đất để thi hành án giữa:

Người yêu cầu: Ông Nguyễn Văn T. Chức vụ: Chấp hành viên.

Địa chỉ: Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đ.

Người bị yêu cầu: Bà Phạm Thị A và ông Vũ Văn B.

Địa chỉ: Thôn 8, xã K, huyện C, tỉnh Đ….”

Ngày 26/7/2017, Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đ có đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự và trả lại đơn yêu cầu số 27/2017/QĐST-VDS ngày 03/5/2017 của TAND huyện C, tỉnh Đ.

Quyết định giám đốc thẩm số 26/2020/DS-GĐT ngày 09/6/2020 của Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 06/2020/KN-DS 16/3/2020 của Chánh án TAND cấp cao tại Đà Nẵng, hủy Quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự và trả lại đơn yêu cầu số 27/2017/QĐST-VDS của TAND huyện C; giao hồ sơ việc dân sự cho TAND huyện C nhận lại đơn yêu cầu và thụ lý, giải quyết lại sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.

3. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm

Người yêu cầu – ông Nguyên Văn T đã căn cứ vào địa chỉ của bà Phạm Thị A là tại xã K, huyện C được thể hiện trong Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 05/2016/QĐST-DS của TAND huyện C và Quyết định thi hành án số 461/QĐ-CCTHDS của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C để ghi trong Đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự là theo đúng địa chỉ của người có liên quan đến việc giải quyết việc dân sự.

Quá trình giải quyết việc dân sự, TAND huyện C tiến hành xác minh tại địa chỉ nơi đăng ký thường trú và địa chỉ nơi mới chuyển đến của bà Phạm Thị A đều có kết quả là bà Phạm Thị A và ông Vũ Văn B không cư trú, không có mặt ở những địa chỉ này.

Như vậy, ông Nguyễn Văn T đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người có liên quan đến việc giải quyết việc dân sự - bà Phạm Thị A, nhưng vợ chồng bà Phạm Thị A đã thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú, làm cho ông Nguyễn Văn T không biết được, nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ… Trường hợp này, căn cứ vào điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, thì TAND huyện C không trả lại đơn yêu cầu mà xác định người có liên quan đến việc giải quyết việc dân sự cố tình giấu địa chỉ để tiến hành thụ lý, giải quyết việc dân sự nêu trên theo thủ tục chung. Thế nhưng, TAND huyện C lại áp dụng điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự, quy định về trường hợp chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật để đình chỉ giải quyết việc dân sự và trả lại đơn yêu cầu là không đúng quy định của pháp luật.

Ngoài ra, khi thụ lý, giải quyết việc dân sự nêu trên, TAND huyện C xác định bà Phạm Thị A và ông Vũ Văn B tham gia tố tụng với tư cách là người bị yêu cầu là không đúng quy định của pháp luật, vì theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự thì: “Đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tố chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”, không có người bị yêu cầu.

Nguồn: vksndtc.gov.vn

Các nội dung liên quan

Các bài mới đăng